† MUỐI MẶN ƯỚP ĐỜI † Giáo phận Vinh †https://update.muoiman.net/assets/images/logo.png
Thứ tư - 04/05/2022 21:46
Là con người, ai cũng có kinh nghiệm về sự sống. Tuy nhiên, câu hỏi ‘sự sống là gì?’ luôn vượt quá sự hiểu biết và giải thích của con người. Những câu hỏi khác liên quan đến sự sống cũng không dễ dàng tìm được câu trả lời thỏa đáng, chẳng hạn như ‘đâu là nguồn gốc của sự sống?’, ‘đâu là đặc trưng của sự sống?’ hay ‘đâu là cùng đích của sự sống?’.
Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022: Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (13) Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 01 năm 2021 ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ: ĐƯỜNG BÌNH AN + Pet. Nguyễn Văn Viên
Các bạn trẻ thân mến, Năm 2020, chúng ta đã suy niệm 12 chủ đề về hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su. Đặc biệt, tháng Mười Hai vừa qua, mừng Lễ Giáng Sinh, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô - Đường Ánh Sáng. Với Giáo Hội Công Giáo, ngày đầu tiên của Năm Mới Dương Lịch là ngày cầu nguyện cho hòa bình (bình an) trên toàn thế giới. Vì thế, trong tháng này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô - Đường Bình An. Người đã đi đường bình an để đến với nhân loại ngõ hầu dẫn đưa tất cả mọi người về với Thiên Chúa là Nguồn Mạch Bình An Vĩnh Cửu.
Trong văn hóa Do-thái, từ 'bình an' đồng nghĩa với ‘hòa bình' (שׁלום, shalom) được sử dụng rất nhiều. Người Do-thái chào chúc 'bình an' mỗi khi gặp gỡ hoặc chia tay nhau. Ngoài nghĩa thông thường, ‘bình an’ còn mang một số nghĩa khác nữa, chẳng hạn như 'hoàn thành', 'toàn thể, 'hòa hợp', 'viên mãn'. Đối với văn hóa Việt Nam, 'bình an' cũng có nghĩa là 'hòa bình'. Tuy nhiên, thông thường 'bình an' được sử dụng để diễn tả tình trạng nội tâm cá nhân, còn 'hòa bình' diễn tả tương quan giữa người với người cũng như các hình thức tập thể khác. 'Xin cho hai chữ bình an' là câu nói khá phổ biến nơi cửa miệng nhiều người. Từ người trẻ đến người già cả ai cũng muốn được bình an. Hơn nữa, không chỉ người sống muốn được bình an, người chết cũng cần bình an. Trên nhiều bia mộ của người Ki-tô hữu, chúng ta thường thấy ba ký tự ‘RIP’, viết tắt của ‘Requiescat in Pace’ trong tiếng La-tinh, nghĩa là ‘hãy nghỉ ngơi bình an’. Trong nhãn quan mặc khải Ki-tô Giáo, bình an là trạng thái của con người dồi dào ân sủng Thiên Chúa và bình an đáng mong đợi nhất là ơn cứu độ vĩnh cửu của Người.
Khi nói ‘bình an’, chúng ta quan tâm đến tình trạng ‘tĩnh’, tình trạng trật tự, tình trạng vắng bóng sợ hãi hay uẩn khúc nào đó của bản thân. Tuy nhiên, trong bối cảnh Kinh Thánh, bình an không chỉ có nghĩa 'tĩnh' mà còn mang nghĩa 'động', nghĩa là con người vẫn được bình an đích thực giữa những lo toan, xáo trộn, đau khổ của cuộc sống hằng ngày. Hơn nữa, trong bối cảnh Kinh Thánh, bình an còn bao gồm nhiều lĩnh vực khác nữa của thế giới hữu hình và vô hình. Trong tất cả hình thức bình an thì bình an nội tâm, bình an của mỗi cá nhân đóng vai trò chủ đạo. Khi không có bình an nội tâm, con người không thể góp phần mình cách hữu hiệu để xây dựng các mối tương quan của cộng đoàn.
Những trang đầu sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa sáng tạo con người trong 'cảnh bình an'. Tuy nhiên, con người đã bất tuân mệnh lệnh Thiên Chúa, đã lạm dụng tự do của mình để phá vỡ 'cảnh bình an'. Khi tội lỗi xâm nhập tâm hồn con người cũng là khi sự xáo trộn, bất an, lo lắng nảy sinh. Theo sách Sáng Thế, sau khi con người phạm tội, Thiên Chúa gọi và hỏi con người: "Ngươi ở đâu? Con người thưa: Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn" (St 3,10). Thiên Chúa tiếp tục hỏi về nguyên nhân của sự bất tuân thì con người đổ tội cho vợ mình, còn bà thì đổ tội cho con rắn (St 3,11-14). Sự bất an nơi mỗi cá nhân cũng như các hình thức tập thể và các tương quan của con người là hậu quả của sự phá vỡ 'cảnh bình an', phá vỡ 'giao ước bình an' giữa Thiên Chúa và con người thuở ban đầu.
Lịch sử Cựu Ước là lịch sử của sự chuẩn bị cho việc Thiên Chúa gửi Đức Giê-su, Hoàng Tử Bình An của Người đến cho nhân loại hầu thiết lập Giao Ước Bình An Vĩnh Cửu (Ds 25,12; Hc 45,24; Ed 34,25; Ml 2,5). Theo tác giả thư gửi tín hữu Do-thái: "Thiên Chúa là nguồn mạch bình an đã đưa Đức Giê-su, Chúa chúng ta ra khỏi cái chết. Đức Giê-su là vị Mục Tử cao cả của đoàn chiên, là Đấng đã đổ máu mình ra để thiết lập giao ước vĩnh cửu" (Dt 13,20). Nhằm thực thi điều đó, Thiên Chúa đã tuyển chọn những khuôn mặt điển hình như Nô-ê, Áp-ra-ham, Gia-cóp, Mô-sê, Đa-vít để họ cộng tác trong việc diễn tả bình an của Người.
Vào khoảng thế kỷ VIII trước Công Nguyên, ngôn sứ I-sai-a đã nói về Hoàng Tử Bình An, Đấng thiết lập Vương Quốc Bình An của Thiên Chúa trên mặt đất này. Hoàng Tử Bình An giải phóng mọi người khỏi ách tù tội, sự hà hiếp của kẻ áp bức (Is 61,1-3). Hơn nữa, Hoàng Tử Bình An sẽ dẫn đưa Dân Thiên Chúa tới cảnh bình an vô tận (Is 9,5-6). Viễn cảnh bình an được diễn tả như sau: "Bấy giờ sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang" (Is 11,6-8). Như thế, ‘thời bình an’ là ‘thời cánh chung' được Hoàng Tử Bình An thiết lập.
Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Giê-su là Bình An của Thiên Chúa và chúng ta có thể diễn tả Đức Giê-su qua nhiều hình ảnh hay tước hiệu liên quan đến căn tính của Người. Chẳng hạn, Đức Giê-su là Ánh Sáng Bình An (Light of Peace); Đức Giê-su là Người Bình An (Person of Peace); Đức Giê-su là người mang đến cho nhân loại Bình An của Thiên Chúa (Bringer of Peace); Đức Giê-su là Đấng Xức Dầu Bình An (Christ of Peace), và Đức Giê-su là Người Tôi Tớ Đau Khổ Bình An (Suffering Servant of Peace); Đức Giê-su là Mục Tử Bình An (Shepherd of Peace), Đức Giê-su là Lời Bình An (Word of Peace), Đức Giê-su là Người Bạn Bình An (Friend of Peace), Đức Giê-su là Hoàng Tử Bình An (Prince of Peace). Chúng ta có thể nhận định rằng bất cứ hình ảnh hay tước hiệu nào của Đức Giê-su cũng có thể gắn liền với 'bình an'.
Trớ trêu thay, cuộc đời Đức Giê-su, Hoàng Tử Bình An, lại diễn ra trong cảnh bất an. Người được sinh ra trong cảnh nghèo hèn. Tuổi ấu thơ, Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se phải đem người trốn sang Ai Cập để tránh sự truy lùng, bắt bớ của vua Hê-rô-đê. Trong ba năm rao giảng công khai, Người sống trong cảnh khó khăn, thiếu thốn. Đặc biệt, Người phải đối diện với muôn hình thức kỳ thị từ những người lãnh đạo tôn giáo và dân sự Do-thái. Hơn nữa, Người gặp không ít rắc rối từ những người Rô-ma đang kiểm soát miền đất Pa-lét-tin. Người trải qua muôn vàn đau khổ và chịu cái chết đau đớn trên thập giá. Theo thánh Phê-rô, Người mang vào mình những bất an, đau khổ, chết chóc của tất cả mọi người trong gia đình nhân loại (Is 53,11; Mt 8,17).
Các tác giả Tin Mừng đều trình thuật và khai triển chủ đề bình an liên quan đến cuộc đời Đức Giê-su. Chẳng hạn, sau Lời Tựa Tin Mừng, thánh Lu-ca đã trình thuật câu chuyện truyền tin cho Da-ca-ri-a. Câu chuyện cho chúng ta biết rằng vì nghi ngờ tình yêu và quyền năng Thiên Chúa khi Người ban tặng cho hai vợ chồng ông (son sẻ và già cả) một người con trai, ông đã bị câm cho đến khi con ông ra đời và ông đặt tên là Gio-an. Trong biến cố này, tâm hồn ông tràn ngập ơn Chúa Thánh Thần và miệng lưỡi ông được mở ra. Ông cất lên bài ca 'Chúc Tụng' (Benedictus), với câu đầu tiên là: "Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en đã viếng thăm cứu chuộc dân Người" (Lc 1,68); còn hai câu cuối cùng là: "Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an" (Lc 1,78-79). Với Da-ca-ri-a, Đức Giê-su chính là Vầng Đông và là Bình An được Thiên Chúa gửi đến trần gian để tất cả mọi người trong gia đình nhân loại có được ánh sáng cần thiết cho cuộc lữ hành trần gian tăm tối, đồng thời, dẫn đưa mọi người đi trên Đường Bình An. Với Da-ca-ri-a, trần gian có vô số đường để con người tiến bước. Tuy nhiên, Đường Bình An là Đường quan trọng nhất, bởi vì Đường Bình An cho phép con người đến với Quê Hương Bình An đích thực là Nước Thiên Chúa.
'Bình an' là từ xuất hiện ngay trong Biến Cố Giáng Sinh. Khi Đức Giê-su được sinh ra thì vô số thiên binh đồng thanh cùng sứ thần ca hát: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương" (Lc 2,14). Vinh quang Thiên Chúa trên trời và bình an dưới thế cho con người được nối kết với nhau nhờ sự hiện diện bằng xương bằng thịt của Đức Giê-su, Hoàng Tử Bình An. Không có bình an sao được khi Thiên Chúa mang lấy thân phận con người? Không có bình an sao được khi vĩnh cửu hiện diện trong thời gian? Không có bình an sao được khi bản tính Thiên Chúa nối kết với bản tính con người? Không có bình an sao được khi Môi Trường Thiên Chúa hòa quyện với môi trường con người? Không có bình an sao được khi tội lỗi, sự chết bị diệt trừ và tất cả mọi người được mời gọi trở thành con cái Thiên Chúa? Câu hỏi được đặt ra: Tại sao là 'bình an' mà không phải là giàu sang, tài giỏi, sức khỏe hay điều gì khác? Thưa, vì nếu con người có tất cả những thứ đó mà không có bình an thì coi như chẳng có gì.
Trong hành trình rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su đã đem lại bình an cho tất cả mọi người. Chẳng hạn, khi người phụ nữ sờ vào áo Người và được khỏi bệnh, Đức Giê-su nói với bà: "Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh" (Mc 5,34). Người căn dặn các môn đệ trước khi ra đi loan báo Tin Mừng: "Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy" (Mt 10,12). Trên đường đi Giê-ru-sa-lem, tới gần chỗ dốc xuống núi Ô-liu, những người theo Đức Giê-su tung hô: "Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời" (Lc 19,38). Những trích đoạn này cho chúng ta biết rằng Đức Giê-su không chỉ 'chúc bình an' mà còn căn dặn các môn đệ của mình đem bình an tới cho mọi người. Đặc biệt, Người đã thực thi những hành động cụ thể như chữa bệnh, trừ quỉ, an ủi những người ưu phiền nhằm đem lại bình an cho họ.
Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su thổ lộ tâm tình sâu nặng với các môn đệ thân thương của mình: "Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" (Ga 14,1). Người cũng nói với họ: "Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi" (Ga 14,27). Người ban cho họ bình an, sự bình an mà thế gian không thể ban tặng. Tại sao bình an của Đức Giê-su thế gian không thể ban tặng? Thưa, vì Đức Giê-su chính là Bình An đích thực. Có bình an của Đức Giê-su đồng nghĩa với có Đức Giê-su. Như thế, đối với chúng ta là những Ki-tô hữu, câu hỏi đặt ra không phải 'bình an là cái gì?' mà ‘bình an là ai?'.
Đức Giê-su là Bình An! Đây thật là mặc khải quan trọng cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại, bởi vì, bình an của Thiên Chúa không còn là điều gì đó mông lung, trừu tượng nữa mà chính Đức Giê-su là Bình An. Với sự hiện diện và hoạt động của Người trong hành trình dương thế, bình an ‘có hình có dạng’, bởi vì, Ngôi Hai Thiên Chúa là Bình An. Đức Giê-su đã minh chứng điều đó bằng chính đời sống và sứ mệnh bình an của mình hầu nâng đỡ con người trong hành trình trần thế đầy bất an, giải thoát con người khỏi ách tội lỗi và dẫn đưa con người về với Thiên Chúa, Nguồn Mạch Bình An (Rm 15,33).
Sau khi từ cõi chết sống lại, Đức Giê-su đã gặp gỡ và trao ban bình an cho các môn đệ thân tín của Người. Thánh Gio-an trình thuật: "Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em! Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em" (Ga 20,19-21). Nhờ bình an của Đức Giê-su, các môn đệ Người nguyên là những người nhát đảm, yếu đuối, giới hạn trăm chiều đã trở thành những chứng nhân can trường, mạnh mẽ trong việc loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng Bình An của Người cho anh chị em đồng loại.
Hơn ai hết, thánh Phao-lô hiểu rõ rằng Đức Giê-su là Bình An, Người nối kết mọi người, mọi dân tộc trên khắp hoàn cầu. Viết thư cho các tín hữu ở Ê-phê-xô, ngài khẳng định: "Chính Đức Giê-su là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do-thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét; Người đã huỷ bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật. Như vậy, khi thiết lập hoà bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người" (Ep 2,14-15). Chúng ta có thể diễn đạt tư tưởng của thánh Phao-lô như sau: Đức Giê-su là Bình An biến đổi thân phận con người từ tình trạng nô lệ vì tội lỗi sang tình trạng được giải phóng nhờ ân sủng của Người. Đức Giê-su là Bình An cho phép liên kết những gì khác biệt và hiệp nhất những gì phân cách. Chẳng hạn, trong quá khứ, dân Do-thái và dân ngoại thường chống đối nhau, với Đức Giê-su là Bình An, họ trở thành anh chị em của nhau. Đức Giê-su là Bình An hòa giải những xung khắc giữa 'Luật Cũ' và 'Luật Mới' ngõ hầu tất cả mọi người cảm nhận được tính liên tục của chương trình Thiên Chúa cứu độ mà đỉnh cao là sự hiện diện của Người giữa lòng nhân loại.
Thời thơ ấu, khi Đức Giê-su được dâng vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, ông Si-mê-on đã nói với Đức Ma-ri-a: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng" (Lc 2,34). Điều này được ứng nghiệm trong cuộc đời Đức Giê-su: Người là Bình An giữa cảnh gian nan khốn khó. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Người nhắn nhủ các môn đệ nhiều điều và Người kết luận: "Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian" (Ga 16,33). Đức Giê-su không nói với họ rằng với bình an của Người, họ không còn phải đương đầu với những khó khăn nữa hay Người sẽ cất hết mọi hình thức bất an cho họ. Người cũng không nói với họ rằng Tội Nguyên Tổ và hậu quả của Tội này không còn chút ảnh hưởng trên họ và họ sẽ được miễn nhiễm mọi khổ đau trong hành trình trần thế này. Nhưng, Người cho họ biết rằng với bình an của Người, họ có khả năng chịu đựng những nghịch cảnh của cuộc sống, kể cả sự chết và họ sẽ được chung hưởng Bình An Vĩnh Cửu với Người.
Đối với các môn đệ Đức Giê-su, trong hành trình theo Người, ban đầu họ không hiểu rõ căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người. Như bao người khác, các môn đệ cũng thích những gì dễ dãi, không cần vất vả, không tốn công vun đắp, không cần hy sinh. Dần dần, họ hiểu ra rằng theo Đức Giê-su đòi hỏi phải từ bỏ những thói quen xấu, từ bỏ sự dữ, từ bỏ thế giới bóng tối, từ bỏ sự tự do lăng loàn, ích kỷ, ngạo mạn. Theo Đức Giê-su đồng nghĩa với 'vác thập giá mình mà theo' (Mc 8,34). Càng gắn bó với Đức Giê-su, họ càng nhận ra rằng bình an mà Người mang đến cho nhân loại không như họ tưởng tượng hay mong đợi.
Đức Giê-su là Thiên Chúa và là Đấng Bình An, tuy nhiên, bình an của Thiên Chúa, bình an của Đức Giê-su vượt quá những lượng định hay hiểu biết của con người. Thánh Phao-lô khẳng định: "Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su" (Pl 4,7). Trong bài giảng về sứ mệnh loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà" (Mt 10,34-36). Đức Giê-su nói vậy không có nghĩa rằng Người đến để gây bất hòa, chia rẽ, nhưng có nghĩa rằng những ai theo Người cần đón nhận những giá trị Người giới thiệu (1 Cr 14,33). Điều này có nghĩa là bình an Người mang tới là bình an ngang qua thập giá. Bình an được diễn tả bởi sự hy sinh, quên mình, từ bỏ (Dt 13,20). Minh định của thánh Phao-lô giúp chúng ta hiểu rõ hơn: "Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét. Người đã đến loan Tin Mừng bình an: Bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha" (Ep 2,16-17). Tương tự như thế, trong thư gửi tín hữu Cô-lô-xê, thánh nhân viết: “Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó” (Cl 3,15).
Với Đức Giê-su, hòa giải cũng chính là bình an hay ngược lại. Sau khi sống lại, Đức Giê-su nói với các môn đệ 'bình an cho anh em', đồng thời, Người cũng trao ban Chúa Thánh Thần và sai các môn đệ ra đi thực thi sứ mệnh hòa giải (Ga 20,22-23). Thánh Phao-lô hiểu rõ Biến Cố Đức Giê-su là Biến Cố Hòa Giải để đem lại bình an cho thế giới thụ tạo. Điều này có nghĩa là sự hòa giải của Đức Giê-su vừa mang chiều kích cá nhân, vừa mang chiều kích tập thể, vừa mang chiều kích hoàn vũ. Chẳng hạn, với người phụ nữ tội lỗi sám hối ăn năn, Đức Giê-su nói với chị: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an" (Lc 7,50). Còn thánh Phao-lô thì quả quyết: "Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời" (Cl 1,19-20).
Đối với chúng ta, khi mọi chuyện xảy ra như ý muốn, chúng ta cảm thấy bình an. Tuy nhiên, đây chỉ là 'bình an sở hữu', 'bình an vị kỷ', 'bình an hướng tâm'. Bình an đích thực mà Đức Giê-su ban tặng là 'bình an trút bỏ', 'bình an vị tha', 'bình an hướng ngoại'. Bình an Đức Giê-su cho phép chúng ta hướng về phía trước với niềm tin yêu và hy vọng sâu thẳm. Bình an Đức Giê-su cho phép chúng ta vượt qua muôn sóng gió của biển đời, chẳng hạn như đau khổ, mất mát, bị hiểu nhầm, thậm chí cả hy sinh mạng sống. Các thánh trong lịch sử Giáo Hội, nhất là các thánh tử đạo, đã cảm nhận được bình an Đức Giê-su trong đời mình. Đó là lý do giải thích tại sao các ngài sẵn sàng chịu đựng tất cả cực hình để trở nên chứng nhân của Đức Giê-su và Tin Mừng Bình An của Người cho anh chị em đồng loại.
Đức Giê-su đã đi Đường Bình An đến với tất cả mọi người, tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều nhìn nhận Đức Giê-su và Đường Bình An của Người. Chẳng hạn, trong hành trình lên Giê-ru-sa-lem, khi đến gần thành, Đức Giê-su đã khóc thương Giê-ru-sa-lem vì dân thành này không nhận ra Người. Thánh Lu-ca trình thuật: "Khi đến gần Giê-ru-sa-lem và trông thấy thành, Đức Giê-su khóc thương mà nói: Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được" (Lc 19,41-42). Dân thành Giê-ru-sa-lem hằng đợi trông Đấng Mê-si-a, Đấng Xức Dầu Bình An đến với họ, tuy nhiên, khi Người đến, họ đã không nhận ra, bởi vì, Người không giống Đấng Mê-si-a theo tâm trí của họ.
Bình an của Đức Giê-su vừa là món quà cho chúng ta, vừa là tác vụ của chúng ta. Thánh Phao-lô nhắn nhủ các tín hữu ở Phi-líp-phê: "Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe, đã thấy ở nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em" (Pl 4,9). Điều này có nghĩa là bình an Đức Giê-su để lại không phải là di sản để chúng ta khóa kín trong viện bảo tàng tâm hồn mình. Những môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su được mời gọi trao ban bình an của Người cho anh chị em đồng loại. Nói cách khác, bình an của Đức Giê-su cần được loan báo, cần được chia sẻ, cần được thẩm thấu mọi chiều kích của đời sống con người. Đồng thời, bình an Đức Giê-su cần trở thành yếu tố nền tảng để con người xây dựng, phát triển và điều chỉnh các tương quan trong xã hội.
Sứ mệnh làm cho Tin Mừng Bình An đến với mọi người đã được các ngôn sứ loan báo từ xưa. Chẳng hạn, ngôn sứ I-sai-a (thế kỷ VIII trước Công Nguyên) viết: “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Xi-on rằng: Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị” (Is 52,7). Còn ngôn sứ Na-khum (thế kỷ VII trước Công Nguyên) thì diễn tả như sau: “Kìa, trên các đồi núi xuất hiện người đi loan báo Tin Mừng, và công bố bình an” (Nk 2,1). Khi giảng dạy tại nhà ông Co-nê-li-ô, thánh Phê-rô nói: "Thiên Chúa đã gửi đến cho con cái nhà Ít-ra-en lời loan báo Tin Mừng bình an, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, là Chúa của mọi người” (Cv 10,36). Viết thư cho tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô khuyến khích họ: "Hãy đứng vững: Lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo tin mừng bình an" (Ep 6,14-15). Do đó, các môn đệ Đức Giê-su được mời gọi luôn ở lại với Đức Giê-su, học hỏi từ Đức Giê-su và đem bình an của Đức Giê-su đến cho mọi người (Lc 10,5-6).
Chúng ta có thể khẳng định rằng bình an không phải là một lựa chọn giữa các lựa chọn khác trong cuộc sống con người mà là điều kiện thiết yếu để con người hướng tới sự phát triển toàn diện. Làm sao các cá nhân có thể phát triển toàn diện được nếu không có bình an? Làm sao các cộng đoàn có thể phát triển được nếu không có bình an? Có gì có thể thay thế bình an chăng? Thái độ thù địch hoặc chiến tranh có thể thay thế bình an sao? Quả thật, không có bình an, con người sẽ lâm vào cảnh mù mịt, bế tắc, không lối thoát.
Ngạn ngữ La-tinh có câu: "Si vis pacem, para bellum" (nếu bạn muốn hòa bình, hãy chuẩn bị cho chiến tranh). Lịch sử nhân loại từ cổ chí kim luôn có những người chủ trương như vậy. Thực ra, đây là quan điểm sai lầm mà chúng ta cần cùng nhau góp sức loại trừ, bởi vì, chiến tranh chỉ gây nên chiến tranh, hận thù chỉ gây nên hận thù, chia rẽ chỉ gây nên chia rẽ. Người đi Đường Bình An của Đức Giê-su là Người biết nói ‘không’ với chiến tranh, súng đạn hay các hình thức bạo lực. Người đi Đường Bình An của Đức Giê-su là người nói ‘lời yêu thương’ với tất cả mọi người, ngay cả những người làm hại mình. Người đi Đường Bình An của Đức Giê-su là người ý thức được thân phận yếu đuối mỏng giòn của mình giữa lòng nhân thế và tin tưởng, cậy trông vào sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa được diễn tả qua Đức Giê-su. Người đi Đường Bình An của Đức Giê-su là người ý thức rằng mình được mời gọi trở thành khí cụ bình an của Người ở bất cứ nơi đâu mình hiện diện và hoạt động.
Chúng ta biết rằng hành trình trần thế của Đức Giê-su không chỉ khôi phục phẩm giá con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa mà còn mời gọi con người trở thành con Thiên Chúa (1 Ga 3,1). Câu hỏi được đặt ra: Làm sao con người có thể trở thành con Thiên Chúa? Thưa, trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su cho chúng ta câu trả lời: "Phúc thay ai xây dựng hòa bình [bình an], vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa" (Mt 5,9). Sứ mệnh Đức Giê-su giao phó cho các môn đệ và tông đồ của Người xưa kia cũng như hôm nay là cộng tác với Người để làm cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại trở thành 'những người kiến tạo bình an' (peacemakers). Thánh Phao-lô khuyên dạy các tín hữu Rô-ma: “Chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại bình an và những gì xây dựng cho nhau” (Rm 14,19).
Trong hành trình trần thế, bình an là công trình dang dở hơn là công trình hoàn thành, là hướng đi hơn là đích đến, là tiến trình vượt không gian, thời gian hơn là tiến trình bị giới hạn trong thế giới thụ tạo. Nói cách khác, trên bình diện cá nhân cũng như tập thể, con người không bao giờ đạt được bình an trọn vẹn trong hành trình trần thế này. Bởi vì, bao lâu còn trong hành trình trần thế, bấy lâu mãnh lực của ma quỉ, của dối trá, của bất an vẫn còn hoành hành. Những đe dọa xói mòn bình an, những nguy cơ bất an hay những kẻ thù của bình an vẫn còn đó. Tuy nhiên, những người đặt niềm tin trọn vẹn vào Đức Giê-su, Đường Bình An, luôn có đủ sức mạnh cần thiết để vượt qua những chướng ngại trong cuộc sống với con mắt tâm hồn không ngừng hướng về Người.
Là con người, ai cũng muốn bình an (Gaudium et Spes 78). Đáng buồn thay, nhiều người muốn bình an với thiên kiến cá nhân. Theo họ, để có bình an, mọi người phải thế này, thế kia như thể họ là 'tiêu chuẩn' của bình an vậy. Quả thật, không ai trong gia đình nhân loại xứng đáng là tiêu chuẩn của bình an, bởi vì, theo mặc khải Ki-tô Giáo, tất cả mọi người trong gia đình nhân loại đều là những người tội lỗi (Tv 51,7; 1 Ga 1,8). Do đó, tất cả mọi người hãy 'nhìn lên' Đức Giê-su là Đường Bình An. Mọi người hãy đến với Người để có được tâm hồn bình an và nhờ đó trở thành người kiến tạo bình an trong môi trường sống của mình. Ai không nhận ra Đức Giê-su là Đường Bình An thì khó có thể đóng góp phần mình cho bình an đích thực trong gia đình nhân loại.
Trong thông điệp truyền thông qua Radio gửi các nguyên thủ quốc gia và các dân tộc trên thế giới ngày 24/8/1939, Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII nói: "Không gì mất mát bởi hòa bình [bình an]; mọi thứ có thể mất mát vì chiến tranh". Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng gia đình nhân loại luôn vận động và phát triển. Đường hướng vận động và phát triển tốt đẹp hơn nhờ sự cộng tác giữa con người với Thiên Chúa, với Đức Giê-su, ngõ hầu bình an được hiện diện nơi mỗi cá nhân và các hình thức cộng đoàn. Trong nhãn quan của thánh Giáo Hoàng Phao-lô VI, phát triển có nghĩa là hòa bình [bình an] hay tên mới của 'hòa bình' [bình an] là 'phát triển' (Populorum Progressio 87). Theo ngài, bình an là điều kiện cho phát triển và phát triển là hoa trái của bình an. Nói cách khác, bình an và phát triển đi đôi với nhau và trở thành nền tảng cho việc nâng cao phẩm giá con người trong các hình thái xã hội.
Gia đình nhân loại có nhiều nền văn hóa, tuy nhiên, chúng ta có thể khẳng định rằng 'nền văn hóa bình an' chính là nền văn hóa chung của tất cả mọi người. Nền văn hóa này được xây dựng khi mỗi người ý thức tầm quan trọng của bình an trong đời sống cá nhân cũng như các hình thức tập thể, đồng thời, ý thức rằng mình không phải là tiêu chuẩn bình an cho tất cả mọi người. Đặc biệt, nền văn hóa bình an được xây dựng khi mỗi người ý thức rằng tất cả mọi người là anh chị em của nhau trong gia đình nhân loại, đồng thời, nhiệt tâm cổ vũ tình liên đới, sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh. Nền văn hóa bình an cũng giúp con người quan tâm hơn đến muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo và luôn ý thức rằng mình không chỉ là 'ông chủ' mà còn là 'nhà quản lý' muôn vật muôn loài. Đặc biệt, nền văn hóa bình an giúp con người nhận ra thân phận bất an của mình và biết thành tâm quy hướng về Thiên Chúa, Nguồn Mạch Bình An, và Đức Giê-su là Đường Bình An cho tất cả mọi người.
Chúng ta có thể kết luận rằng bình an chính là nền tảng để con người xây dựng cuộc sống sao cho xứng đáng với phẩm giá mình. Theo mặc khải Ki-tô Giáo, Thiên Chúa sáng tạo con người và muôn vật muôn loài trong 'cảnh bình an', nhưng con người đã ‘sa chước cám dỗ’, đã gây nên 'cảnh bất an'. Tuy nhiên, Thiên Chúa hằng yêu thương con người, đặc biệt, Người đã gửi Đức Giê-su là Hoàng Tử Bình An đến với con người và chia sẻ 'cảnh bất an' với tất cả mọi người. Hơn nữa, Đức Giê-su đã chịu nhiều đau khổ, chịu chết và sống lại để minh chứng Người là Bình An của Thiên Chúa. Trong hành trình trần thế, Người luôn mời gọi mọi người 'hãy đi Đường Bình An' của Người để có được bình an trong tâm hồn, bình an với anh chị em đồng loại, bình an với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, đặc biệt, bình an với Thiên Chúa. Ước gì tâm tình của thánh Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê đối với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca trong Giáo Hội sơ khai cách đây gần hai ngàn năm trở nên hiện thực đối với tất cả chúng ta: "Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hóa toàn diện con người anh em, để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em, được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách, trong ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, quang lâm" (1 Tx 5,23). Nhờ đó, chúng ta thực sự trở thành công dân Nước Thiên Chúa Viên Mãn, Nước của "sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần" (Rm 14,17). WHĐ (2.1.2021)
Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022: Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (22) Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 10 năm 2021 ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG VÂNG PHỤC + Pet. Nguyễn Văn Viên
ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG ĐAU KHỔ Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên
WHĐ (03.3.2022) - Là con người, ai cũng phải gặp đau khổ. Đau khổ gắn liền với cuộc sống con người từ khi hình thành trong lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Tuy nhiên, thật khó để đưa ra một định nghĩa tổng quát về đau khổ bởi vì các hình thức đau khổ thật đa dạng. Chẳng hạn, có những người đau khổ vì bệnh tật, vì cô đơn, vì nghèo khổ, vì thiếu hiểu biết, vì sợ hãi, vì bị vu oan giá họa; có những người đau khổ vì những lầm lỗi trong tư tưởng, lời nói hay việc làm; có những người đau khổ vì yêu thương, vì muốn sống thánh thiện, vì xả thân cứu giúp người khác; có những người đau khổ vì ‘quá khôn ngoan và nhiều hiểu biết’ như tác giả sách Giảng viên khẳng định: “Càng nhiều khôn ngoan, càng nhiều phiền muộn, càng thêm hiểu biết, càng thêm khổ đau” (Gv 1,18); có những người đau khổ vì chiến tranh, vì bất công xã hội, vì bị phân biệt chủng tộc; có những người đau khổ vì thảm họa thiên nhiên như động đất, núi lửa, thời tiết thất thường hay dịch bệnh. ‘Bóng dáng đau khổ' hiện diện trong mọi nơi, mọi lúc của đời sống con người trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Không ai được mọi người yêu mến mà không đau khổ vì họ; không ai khỏe mạnh mà không phải ra công tập luyện; không ai thành đạt mà không phải đổ mồ hôi; không ai giỏi giang mà không phải kiên tâm học hỏi; không ai thánh thiện mà không phải chịu nhiều hy sinh. Người trẻ cũng như người già, người giàu cũng như người nghèo, người vui cũng như người buồn, người sang cũng như người hèn, ai ai cũng phải đối diện với đau khổ. Người lạc quan hay người thất vọng đều cảm nhận đau khổ bao phủ đời mình. Quả thực, đau khổ len lỏi vào mọi ngõ ngách của cuộc sống con người cũng như các hình thái xã hội: Có những người tìm cách để thoát khỏi đau khổ nhưng lại phải chịu nhiều đau khổ hơn; có những người tìm cách để quên đi đau khổ nhưng lại nhớ đến đau khổ nhiều hơn; có những người tìm cách phủ nhận đau khổ nhưng đau khổ càng hiện diện cách rõ nét hơn. Kinh nghiệm cuộc sống cho mọi người nhận thức rằng trong xã hội loài người, không có niềm vui nào lại không pha chút buồn phiền; không có thành công nào lại không vương mùi thất bại; không có tình yêu nào lại vắng bóng ghét ghen. Tắt một lời, không có gì liên quan đến con người mà miễn nhiễm đau khổ: Con người muốn được bình an nhưng gian nan luôn kề cận; con người muốn ánh sáng nhưng bóng tối lại bao trùm; con người muốn tự do nhưng phải đương đầu với muôn hình thức giới hạn. Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, đau khổ không chỉ gắn liền với con người mà còn với muôn vật muôn loài. Điều này được thánh Phao-lô diễn tả trong thư gửi tín hữu Rô-ma: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người… Thật vậy, chúng ta biết rằng: Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,19-22). Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy rằng: “Trong sự khôn ngoan và nhân hậu vô biên của Người, Thiên Chúa đã tự ý sáng tạo một thế giới trong ‘tiến trình’ hướng về sự trọn hảo tối hậu. Theo ý định của Thiên Chúa, sự tiến hóa này gồm có việc vật này xuất hiện và vật khác biến đi, có cái hoàn hảo hơn và có cái kém hơn, có xây đắp và cũng có tàn phá trong thiên nhiên. Vì vậy bao lâu mà cuộc sáng tạo chưa đạt được sự trọn hảo của nó, thì cùng với điều tốt thể lý, cũng có sự dữ thể lý” (GLGHCG 310). Như thế, đau khổ gắn liền với tội lỗi, với sự tự do của con người cũng như với tiến trình biến đổi của thế giới thụ tạo. Dưới nhãn quan mặc khải Ki-tô Giáo, ba hình thức đau khổ đáng để chúng ta quan tâm là: (1) đau khổ thể lý, (2) đau khổ luân lý và (3) đau khổ đời đời. Đau khổ thể lý được xem là đau khổ tự nhiên liên quan đến thân thể con người. Đau khổ luân lý liên quan đến đến tội lỗi, chẳng hạn, những tội lỗi về tư tưởng, lời nói và hành vi của con người trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và muôn vật muôn loài. Đau khổ đời đời là hậu quả của sự tự do chọn lựa đời sống luân lý của mỗi người. Trong gia đình nhân loại, không ai có thể miễn nhiễm khỏi đau khổ thể lý và đau khổ luân lý. Với thời gian, đau khổ thể lý sẽ qua đi. Đặc biệt, đau khổ thể lý đạt đỉnh điểm trong cái chết của mỗi người. Đau khổ luân lý được hòa giải nhờ tin tưởng, lắng nghe và thực thi giáo huấn của Đức Giê-su. Còn đau khổ đời đời thuộc về những ai từ chối tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được Đức Giê-su thực hiện. Đây là hình thức đau khổ chung quyết và không thể thay đổi. Kinh Thánh cho chúng ta nhận thức rằng Thiên Chúa không phải là tác giả của sự dữ hay đau khổ trong thế giới thụ tạo, bởi vì “mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1,31). Theo sách Sáng Thế, khi con người vô ơn, khi con người kiêu ngạo, khi con người bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa cũng là khi tội lỗi xâm nhập trần gian và khi tội lỗi xâm nhập trần gian cũng là khi con người phải đối diện với muôn hình thức đau khổ (St 3,1-19). Tác giả sách Khôn Ngoan (sách này được thu thập và soạn thảo cuối cùng trong các sách Cựu Ước, khoảng năm 130 trước Công Nguyên), viết rõ hơn: “Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người. Nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian. Những ai về phe nó đều phải nếm mùi cái chết” (Kn 2,23-24). Dưới nhãn quan của truyền thống Do-thái Giáo thuở ban đầu, đau khổ của con người được xem là hậu quả của tội lỗi. Quan điểm này vẫn còn khá thịnh hành theo dòng lịch sử dân Do-thái cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới. Tuy nhiên, mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận biết rằng đau khổ không nhất thiết do hậu quả của tội lỗi. Câu chuyện ông Gióp trong Cựu Ước giúp con người có cái nhìn mới mẻ hơn về đau khổ. Theo đó, đau khổ được nhìn nhận như là thử thách của Thiên Chúa đối với con người. Ông Gióp bị mất mát quá lớn cũng như mang lấy bệnh tật hiểm nguy. Trong thất vọng, người vợ của ông nói: "Ông còn kiên vững trong đường lối vẹn toàn của ông nữa hay thôi? Hãy nguyền rủa Thiên Chúa và chết đi cho rồi!" (G 2,9). Những người bạn của ông thì lại cho rằng vì tội lỗi của bản thân mà ông phải chuốc lấy tai họa, chẳng hạn như ông Ê-li-phát, người Tê-man nói: "Điều tôi thấy rành rành là những người vun trồng tội ác và gieo tai rắc họa cuối cùng chỉ gặt lấy họa tai" (G 4,8). Tuy nhiên, ông Gióp luôn minh chứng rằng mình vô tội và trong mọi hoàn cảnh, ông ca ngợi lòng nhân từ của Thiên Chúa. Với ông, dù giàu nghèo hay sống chết, ông luôn tín thác vào Người. Ông nói: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: Xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1,21). Với niềm tin vững chắc, tâm hồn ông luôn hướng về môi trường vĩnh cửu của Thiên Chúa. Ông nói: “Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn sống, và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất. Sau khi da tôi đây bị tiêu hủy, thì với tấm thân, tôi sẽ được nhìn ngắm Thiên Chúa. Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Người, Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải người xa lạ. Lòng tôi những tha thiết mong chờ” (G 19,25-27). Câu chuyện ông Gióp cho thấy hai ý nghĩa của đau khổ vượt xa quan niệm truyền thống: (1) Xét theo chiều kích luân lý: Đau khổ có thể cảnh báo con người xa lánh tội lỗi, tránh được tính kiêu căng hay tự mãn, giữ linh hồn khỏi sa vào vực thẳm, cứu sinh mạng khỏi rơi xuống đường hầm và nhất là đau khổ giáo dục con người (G 33,15-24). (2) Xét theo chiều kích tín lý: Đau khổ nhằm để thử thách, để xem lòng kính sợ Thiên Chúa của ông Gióp có hoàn toàn vô vị lợi hay không. Vì luôn trung tín với Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, cuối cùng ông đã được Thiên Chúa ân thưởng gấp bội và lìa bỏ cõi trần trong bình an (G 42,10-17). Hình ảnh ông Gióp được xem là hình ảnh báo trước Đức Giê-su, Đấng Công Chính phải chịu đau khổ cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Trong hành trình trần thế, Đức Giê-su cảm nhận sâu xa những đau khổ của kiếp người, chẳng hạn như Người sinh ra và lớn lên trong cảnh nghèo hèn; hành trình rao giảng là hành trình không nhà cửa; Người mệt nhọc, lo lắng, buồn phiền, khóc lóc; Người bị bà con quê hương xa lánh, những bậc vị vọng trong dân Do-thái khinh bỉ, những người ngoại bang chê cười; Người bị kết tội phá vỡ tập tục truyền thống tổ tiên, nói phạm thượng, gây náo loạn cộng đồng. Thư gửi tín hữu Do-thái nói về Đức Giê-su: “Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2,18). Do đó, Người quan tâm đến mọi người, đặc biệt những ai đau khổ về tâm hồn, thể xác. Chẳng hạn, Người chạnh lòng thương những người vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt (Mt 9,36); chạnh lòng thương trước những người đói khát và hóa bánh ra nhiều cho họ ăn (Mt 14,13-21); chạnh lòng thương trước những người mù lòa và cho họ được sáng mắt (Mt 20,29-34); chạnh lòng thương trước người bị phong hủi và chữa anh khỏi bệnh (Mc 1,40-45); chạnh lòng thương trước đứa trẻ bị quỷ ám mắc bệnh động kinh và cho em được khỏe mạnh (Mc 9,14-29); chạnh lòng thương trước cái chết của con trai bà góa thành Na-in và làm cho con trai bà hồi sinh (Lc 7,11-17); chạnh lòng thương trước người mù từ lúc mới sinh và giúp ông thoát cảnh tăm tối (Ga 9,1-41). Không những thế, Người đồng hóa mình với những người khổ đau, chẳng hạn như những người đói khát, khách lạ, trần truồng, đau yếu, tù đày trong xã hội (Mt 25,31-46). Trước những người đau khổ, Đức Giê-su dạy các môn đệ rằng không phải mọi hình thức đau khổ là do tội của họ hay của những người thân thuộc. Chẳng hạn, thánh Gio-an trình thuật: "Khi ấy Ðức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. Các môn đệ hỏi Người: Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này mới sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta? Ðức Giêsu trả lời: Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh" (Ga 9,1-3). Một mặt, chúng ta thấy rằng Đức Giê-su không phủ nhận đau khổ do tội gây nên. Mặt khác, Người mời gọi mọi người hãy mở trí lòng để có thể đón nhận chương trình của Thiên Chúa đối với các hình thức đau khổ trong gia đình nhân loại. Chỉ Đức Giê-su, chỉ Thiên Chúa mới thấu rõ ngọn ngành của đau khổ, còn con người cần biết cộng tác với Thiên Chúa và với nhau trong việc xoa dịu đau khổ cho của chị em mình. Với Đức Giê-su, đau khổ là bài học quý giá giúp mọi người hoán cải. Thánh Lu-ca trình thuật rằng khi nghe người ta kể về việc tổng trấn Phi-la-tô giết một số người Ga-li-lê cách rùng rợn thì Đức Giê-su cho họ biết rằng không phải những người Ga-li-lê này tội lỗi nhiều hơn những người Ga-li-lê khác. Người cũng nói cho họ biết rằng mười tám người bị tháp Si-lô-ác đổ xuống đè chết không phải là những người tội lỗi hơn những người khác ở Giê-ru-sa-lem. Hai lần Đức Giê-su nói rằng nếu họ không chịu sám hối thì cũng sẽ chết như vậy (Lc 13,1-5). Với Đức Giê-su, hai biến cố chết chóc thảm thương không phải do tội của những người chết, cũng không phải do sự trừng phạt của Thiên Chúa. Điều người muốn diễn tả là cuộc đời con người đầy những đau khổ, bất trắc và không ai có thể biết trước được. Tâm tình quan trọng nhất mà mọi người cần có là hoán cải, trở về với Thiên Chúa và thực thi thánh ý Người trong mọi biến cố của cuộc đời. Khi con người sống trong ân nghĩa với Thiên Chúa và kết hợp mật thiết với Người thì bất cứ những gì xảy ra trên trần gian này đều không đáng lo sợ. Theo thánh Mác-cô, khi Đức Giê-su và các môn đệ trên đường lên Giê-ru-sa-lem thì Người nói với họ: "Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại" (Mc 10,33-34). Như vậy, đau khổ của Đức Giê-su là đau khổ đã được báo trước, đau khổ được ứng nghiệm (Mt 26,54). Xa hơn thế, khoảng bảy trăm năm trước sự hiện diện của Đức Giê-su giữa lòng nhân thế, lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a cho chúng ta biết: "Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới" (Is 53,3); "Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng" (Is 53,7). Dù biết rằng đau khổ sẽ ập đến, Đức Giê-su vẫn tự nguyện mang lấy để thông phần đau khổ và ban ơn cứu độ cho mọi người. Đau khổ của Đức Giê-su là đau khổ của người công chính, của người vô tội, của người chịu đựng vì người khác. Điều này cũng đã được tiên báo trong Cựu Ước: "Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53,4-5). Trong cuộc thương khó, sau khi phản bội Đức Giê-su, Giu-đa đã nhìn nhận: “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan” (Mt 27,4). Khi Đức Giê-su tắt thở trên thập giá, viên đại đội trưởng đã thốt lên: “Người này đích thực là người công chính!” (Lc 23,47). Sau này, trong hành trình rao giảng Tin Mừng, thánh Phê-rô, người môn đệ trưởng của Đức Giê-su viết: “Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe; nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình” (1 Pr 2,21-23). Tương tự như vậy, thánh Gio-an, người môn đệ Chúa yêu, cũng viết: “Đức Giê-su đã xuất hiện để xóa bỏ tội lỗi, và nơi Người không có tội lỗi” (1 Ga 3,5). Như thế, Đức Giê-su chịu đau khổ do người khác và vì người khác. Đức Giê-su là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa hiện diện trong môi trường thế giới thụ tạo: Vị Thiên Chúa toàn năng, cũng là vị Thiên Chúa mang thân phận con người; vị Thiên Chúa là nguồn gốc của muôn vật muôn loài, cũng là vị Thiên Chúa chịu cảnh đau khổ của muôn vật muôn loài; vị Thiên Chúa thi ân giáng phúc, cũng là vị Thiên Chúa bị người đời khinh khi nhục mạ; vị Thiên Chúa thánh thiện, cũng là vị Thiên Chúa là nạn nhân của tội lỗi; vị Thiên Chúa trao ban bình an, cũng là vị Thiên Chúa bị kết án là nguyên nhân chia rẽ; vị Thiên Chúa là Nguồn Sống, cũng là vị Thiên Chúa chịu chết trên thập giá. Không ai có thể liệt kê hết những nghịch lý nơi Đường Đau Khổ của Đức Giê-su trong hành trình trần thế. Cách thức Đức Giê-su tiêu diệt tội lỗi, đau khổ và sự chết hoàn toàn mới lạ so với tâm thức của con người qua mọi thời đại. Quả thực, nơi Đường Đau Khổ của Đức Giê-su, lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a về tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa được ứng nghiệm (Is 55,8-9). Con người thường ngạc nhiên trước những điềm thiêng dấu lạ mà Đức Giê-su thực hiện hơn là những đau khổ của Người. Thực ra, những đau khổ của Người đáng ngạc nhiên hơn những điềm thiêng dấu lạ Người thực hiện. Hai biến cố quan trọng trong cuộc đời Đức Giê-su diễn ra trên núi Ta-bo và núi Sọ giúp mọi người hiểu thêm điều này: Khuôn mặt Đức Giê-su đẫm mồ hôi máu trên núi Sọ đáng ngạc nhiên hơn khuôn mặt sáng láng của Người trên núi Ta-bo; hình ảnh Đức Giê-su trần truồng trên núi Sọ đáng ngạc nhiên hơn hình ảnh Người với áo trắng sáng láng tinh tuyền trên núi Ta-bo; sự cô đơn của Đức Giê-su trên núi Sọ đáng ngạc nhiên hơn sự sum vầy của Người với những môn đệ thân tín cùng Mô-sê và Ê-li-a trên núi Ta-bo; tiếng kêu thương của Đức Giê-su trên núi Sọ "lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” đáng ngạc nhiên hơn tiếng nói của Thiên Chúa Cha "đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người" trên núi Ta-bo; bóng tối bao phủ mọi người trên núi Sọ đáng ngạc nhiên hơn mây trắng bao phủ Đức Giê-su và các môn đệ trên núi Ta-bo. Quả thực, những điềm thiêng dấu lạ Đức Giê-su thực hiện diễn tả quyền năng vốn có của Người, còn những gì Đức Giê-su chịu đau khổ diễn tả tình yêu huyền nhiệm vượt quá tư tưởng và hiểu biết của con người qua muôn thế hệ. Đức Giê-su là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các chúa bởi vì Người là Vua mà lại đón nhận đau khổ, là Chúa mà lại chịu khổ đau. Suy niệm và ngắm nhìn Đường Đau Khổ của Đức Giê-su, con người có thể nhận ra rằng trong gia đình nhân loại, người vĩ đại nhất là người chịu đau khổ nhiều nhất. Từ muôn thuở, Đức Giê-su là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa, Người thuộc Gia Đình Thiên Chúa. Trong thân phận con người, Đức Giê-su là con Đức Ma-ri-a và là con của gia đình nhân loại. Sự vĩ đại nhất của Đức Giê-su không phải là nơi những điều làm cho người ta vỗ tay tán thưởng nhưng là nơi đau khổ cùng cực mà Người phải chịu để cứu giúp con người khỏi cảnh nô lệ tội lỗi, đau khổ và sự chết muôn đời. Nói cách khác, quyền năng vĩ đại nhất mà Đức Giê-su thực hiện là quyền năng diễn tả qua những đau khổ và yếu đuối của Người. Con người không thể đến với Thiên Chúa nếu không đón nhận tình yêu của Người được thực hiện nơi Đường Đau Khổ của Đức Giê-su. Quả thực, Đường Đau Khổ là đường cứu độ, là Đường đem lại sự chữa lành chung cuộc và trọn vẹn cho con người cũng như muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Chính tình yêu của Thiên Chúa nơi Đường Đau Khổ của Đức Giê-su mới cho con người câu trả lời đầy đủ nhất về ý nghĩa của đau khổ mà con người phải chịu trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói riêng với các môn đệ của Người về điều này: "Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,12-13). Tình yêu cứu độ (salvific love) của Đức Giê-su chính là tình yêu đau khổ (suffering love) của Người. Điều này có nghĩa rằng thuộc tính của tình yêu Đức Giê-su diễn tả trong hành trình trần thế là đau khổ. Nói cách khác, tình yêu cứu độ cũng là tình yêu đau khổ và ngược lại. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su không hứa ban cho các môn đệ của Người cuộc sống sung túc, miễn nhiễm các hình thức đau khổ nhưng cho họ biết về những đau khổ mà họ phải chịu đựng. Người nói: “Anh em hãy coi chừng! Người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng và các hội đường; anh em sẽ bị đánh đòn; anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết” (Mc 13,9); “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em. Nếu họ đã tuân giữ lời Thầy, họ cũng sẽ tuân giữ lời anh em. Nhưng họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” (Ga 15,18-21). Cũng trong bối cảnh trước khi bước vào cuộc thương khó, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Thầy nói với anh em những điều ấy, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian" (Ga 16,33). Những điều Đức Giê-su nói được ứng nghiệm đối với những ai trung tín với Người trong dòng lịch sử. Chúng ta có thể khái quát rằng càng trung tín với Đức Giê-su bao nhiêu, con người càng thông phần đau khổ của Người bấy nhiêu. Đức Giê-su hằng liên đới với mọi người trong đau khổ. Thân xác phục sinh của Người vẫn còn in đậm những vết thương. Theo thánh Gio-an, khi hiện ra lần thứ hai sau phục sinh, Người nói với Tô-ma, môn đệ hoài nghi sự phục sinh của Người: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20,27). Điều này giúp chúng ta hiểu rằng Đức Giê-su vẫn luôn đồng hành, chia sẻ và liên đới với tất cả mọi người, nhất là những ai đang phải đương đầu với muôn hình thức đau khổ. Quả thực, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Ga 15,5). Trước khi về trời, Người cũng nói với các môn đệ: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Hơn ai hết, thánh Phao-lô là gương mẫu điển hình trong việc cảm nghiệm về sự liên đới với Đức Giê-su và Giáo Hội, thân thể mầu nhiệm của Người trong hành trình trần thế. Thánh nhân viết: "Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh" (Cl 1,24). Tương tự như vậy, nhờ việc gắn bó với Đức Giê-su và có kinh nghiệm sâu sắc về sự hiện diện của Người, nhà bác học Blaise Pascal (1623 – 1662) viết: ”Đức Giê-su vẫn còn hấp hối cho đến tận thế”. Quả thực, Đức Giê-su đã chịu nhiều đau khổ, chịu chết, sống lại và về trời. Tuy nhiên, Người vẫn luôn hiện diện, đồng hành, chia sẻ đau khổ với mọi người trong gia đình nhân loại. Ai có kinh nghiệm về sự liên kết mật thiết với Đức Giê-su thì luôn phản ứng tích cực trước các hình thức đau khổ, kể cả sự chết. Chẳng hạn, cảm nhận được sự liên kết mật thiết với Đức Giê-su, thánh Phao-lô minh định: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8,35). Cũng theo thánh nhân: “Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39). Đặc biệt, thánh Phao-lô luôn ý thức về những đau khổ của ngài nhân danh Thiên Chúa, nhân danh Đức Giê-su và Tin Mừng của Người. Thánh nhân viết cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca: “Chúng tôi đã đau khổ và bị làm nhục tại Phi-líp-phê; nhưng vì tin tưởng vào Thiên Chúa chúng ta mà chúng tôi đã mạnh dạn rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em, qua những cuộc chiến đấu gay go” (1 Tx 2,2). Đau khổ là tủi nhục, là yếu đuối theo nhãn quan người trần mắt thịt. Tuy nhiên, theo nhãn quan đức tin, thánh Phao-lô xác tín: “Tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Ki-tô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,9-10). Chúng ta biết rằng đặc điểm chung của các thánh là chịu nhiều đau khổ. Thật khó biết bao khi kiếm tìm trong lịch sử một vị thánh không nếm mùi đau khổ. Đối với các ngài, đau khổ là cần thiết cho việc thanh luyện tâm hồn. Điểm chung của các ngài là nhận thức về ý nghĩa của chương trình Thiên Chúa cứu độ được thực hiện nơi Đường Đau Khổ của Đức Giê-su. Càng đau khổ bao nhiêu, các ngài càng gắn bó mật thiết với Người bấy nhiêu. Chính đau khổ đã biến đổi con người và cuộc sống các ngài. Qua muôn thế hệ, các ngài luôn là những mẫu gương cho mọi người học đòi bắt chước. Suy niệm về cuộc đời các thánh, chúng ta có thể khẳng định rằng người thánh thiện nhất là người chịu đau khổ nhiều nhất. Người gần Thiên Chúa nhất là người phải chịu đau khổ nhiều nhất hay càng gần Thiên Chúa bao nhiêu, con người càng phải chịu đau khổ bấy nhiêu. Chúng ta có thể quả quyết rằng châm ngôn (motto) đáng để các Ki-tô hữu quan tâm nhất là ‘qua đau khổ tới vinh quang’ (Lc 24,26). Đức Giê-su đã thực thi châm ngôn này và Người mời gọi những ai theo Người cũng thực thi như vậy. Đâu là nguyên nhân, nguồn gốc của đau khổ? Đau khổ có ý nghĩa gì không? Con người có thể tiêu diệt đau khổ không? Đâu là cách thức hữu hiệu nhất để loại trừ đau khổ? Tại sao Thiên Chúa quyền năng lại để con người đau khổ? Thiên Chúa ở đâu khi những người vô tội phải đau khổ? Quả thực, những câu hỏi về đau khổ quá nhiều so với những giải thích hữu lý về đau khổ. Khi con người càng tìm cách trả lời những câu hỏi liên quan đến đau khổ cũng là khi con người càng phải đối diện với nhiều vấn đề không thể vượt qua. Quả thực, sự dữ, gian ác hay đau khổ thật là nhiệm mầu (2 Tx 2,7). Thánh Au-gút-ti-nô chia sẻ: “Tôi đã truy tìm nguồn gốc sự dữ nhưng không thu được kết quả nào” [quaerebam unde malum, et no erat exitus] (Confessions, VII, 7.11). Cuối cùng, thánh nhân nhìn nhận chương trình Thiên Chúa được thực hiện nơi Đường Đau Khổ của Đức Giê-su như là câu trả lời khả dĩ nhất cho những trăn trở của ngài. Nhờ kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su và đi Đường Đau Khổ của Người, thánh nhân đã không ngừng hoán cải và trở thành mẫu gương sáng ngời cho những ai thành tâm tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống mình trong thế giới thụ tạo cũng như thế giới mai ngày. Con người cần ý thức rằng bao lâu còn trong hành trình trần thế, bấy lâu còn phải đối diện với mầu nhiệm đau khổ. Tự thân, con người không bao giờ có thể loại bỏ các hình thức đau khổ khỏi cuộc sống mình. Các hình thức đau khổ trong đời sống con người thật nhiệm mầu nhưng Đường Đau Khổ của Đức Giê-su còn nhiệm mầu hơn. Như đã được đề cập ở trên, các trình thuật Tân Ước cho chúng ta nhận thức rằng ưu tiên của Đức Giê-su trong hành trình trần thế không phải để giải thích mầu nhiệm đau khổ mà là sống và nếm trải các hình hình thức đau khổ. Do đó, điều cần thiết là con người cần sống với đau khổ theo cách thức Đức Giê-su đã sống. Mầu nhiệm đau khổ của con người gắn liền với mầu nhiệm đau khổ của Đức Giê-su, Người là Tôi Tớ đau khổ của Thiên Chúa (Is 52,13-53,12). Công Đồng Vatican II khẳng định rằng mầu nhiệm con người chỉ có thể được sáng tỏ trong mầu nhiệm của Biến Cố Đức Giê-su (GS 22). Nói cách khác, mầu nhiệm đau khổ của con người cần được nhìn nhận trong tương quan với mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa được diễn tả nơi Đường Đau Khổ của Đức Giê-su. Các hình thức đau khổ trong môi trường thiên nhiên giúp chúng ta nhận thức rằng thế giới này không hoàn hảo. Con người dễ bị tổn thương bởi động đất, núi lửa, sóng thần, dịch bệnh, chiến tranh và nhiều hình thức tàn phá khốc liệt khác. Đây là những dấu chỉ giúp chúng ta nhận ra sự mong manh của kiếp người, sự mong manh của những gì chúng ta cho là bền vững, sự mong manh của thế giới vật chất, sự mong manh của muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Bên cạnh nhiều điều chúng ta không chắc chắn ở trần gian này thì có hai điều chắc chắn mà chúng ta cần quan tâm: (1) Sự chết của con người và (2) ‘sự chết’ của muôn vật muôn loài. Tuy nhiên, mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng không phải chúng ta cũng như muôn vật muôn loài phải chết nhưng được biến đổi (1 Cr 15,51; Kh 21,1-3). Thánh Phao-lô chia sẻ kinh nghiệm của ngài: “Tôi nghĩ rằng: Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Còn tác giả sách Khải Huyền thì diễn tả tình trạng của những ai trung tín với Đường Đau Khổ của Đức Giê-su như sau: “Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất" (Kh 21,4). Đau khổ giúp con người trưởng thành hơn về ba nhân đức quan trọng của Ki-tô Giáo là đức tin, đức cậy và đức mến. Theo tác giả Thánh Vịnh 119: “Đau khổ quả là điều hữu ích, để giúp con học biết thánh chỉ Ngài” (Tv 119,71). Thánh Phao-lô nhấn mạnh rằng: "Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người" (Rm 8,28). Chúng ta biết rằng dân Do-thái bị lưu đày ở Ai Cập hay Ba-by-lon là những sự dữ đối với họ. Tuy nhiên, nhờ đó, họ mới có được kinh nghiệm sâu xa về tình yêu, sự trung tín và giải thoát của Thiên Chúa. Câu chuyện Giu-se, con Gia-cóp, bị các anh mình bán sang Ai-cập là ví dụ điển hình diễn tả việc Thiên Chúa biến sự dữ thành sự lành. Bởi vì, nhờ Giu-se, con cháu và hậu duệ Gia-cóp khỏi phải lâm cảnh chết đói. Khi gặp các anh mình sang Ai-cập để mua lương thực, Giu-se nói: “Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo” (St 50,20). Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo trích lại lời của thánh Au-gút-ti-nô: “Thiên Chúa Toàn Năng bởi Người tốt lành vô cùng, nên không bao giờ để bất cứ một sự dữ nào xảy ra trong các công trình của Người, nếu Người không đủ quyền năng và lòng nhân lành để rút lấy điều lành từ chính sự dữ” (GLGHCG 311). Cũng theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Từ việc Ít-ra-en chối bỏ và hạ sát Con Thiên Chúa là sự dữ luân lý lớn nhất chưa từng có do tội lỗi của mọi người gây nên, Thiên Chúa đã rút ra được sự lành lớn nhất do sự sung mãn của ân sủng: Đức Ki-tô được tôn vinh và chúng ta được cứu chuộc. Tuy nhiên không vì thế mà cái xấu trở thành cái tốt được” (GLGHCG 312). Theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Không có bất cứ chi tiết nào của sứ điệp Ki-tô giáo mà không là một phần của câu trả lời cho câu hỏi về sự dữ” (GLGHCG 309). Cũng theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: "Thiên Chúa trong sự quan phòng toàn năng có thể rút sự lành từ hậu quả của một sự dữ, cho dù là sự dữ luân lý do thụ tạo gây nên" (GLGHCG 312). Như vậy, một mặt, chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không phải là nguyên nhân của sự dữ và hậu quả của sự dữ là đau khổ. Mặt khác, chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa có thể 'rút sự lành từ hậu quả của sự dữ'. Điều này có nhiều bằng chứng trong Kinh Thánh Cựu Ước cũng như Tân Ước. Chẳng hạn, vua Đa-vít là người tội lỗi, đã làm điều dữ, gây đau khổ cho nhiều Người. Tuy nhiên, vua đã ăn năn hối cải chân thành, được Thiên Chúa tha thứ và được gọi là ‘vua thánh’. Sự thánh thiện của vua Đa-vít là sự thánh thiện qua việc hoán cải. Hơn ai hết, Đức Giê-su là hiện thân của việc 'rút sự lành từ hậu quả của sự dữ' qua hành trình trần thế của Người. Đường Đau Khổ của Người trở thành Đường cứu độ nhân loại, cứu độ trần gian (Ga 1,29). Mọi người được mời gọi suy niệm về mầu nhiệm đau khổ trong gia đình nhân loại. Với sự phát triển của y học, các hình thức đau khổ thể lý ngày càng được giảm thiểu. Tuy nhiên, những gì con người làm được thì quá ít ỏi so với những gì con người không thể làm được. Nói cách khác, các hình thức đau khổ của con người luôn vượt quá sự phát triển của y học. Đặc biệt, không ai có thể làm cho mình hay người khác thoát khỏi đau khổ tồi tệ nhất là cái chết. Thực ra, có những hình thức đau khổ không thuộc trật tự của y học. Các hình thức bệnh tật của con người luôn dồi dào hơn các phương thức và thuốc men chữa bệnh. Hơn nữa, không ai có thể đếm hết được các hình thức bệnh tật tiềm tàng trong xã hội loài người cũng như môi trường thiên nhiên. Chẳng hạn, trong bối cảnh hiện tại, nhân loại đang phải đối diện với Covid-19. Tuy nhiên, môi trường thiên nhiên còn có vô số loại vi-rút khác nữa chưa xuất đầu lộ diện. Trong thực tế, con người thường quan tâm đến những đau khổ tự nhiên, đau khổ thể lý nhưng ít quan tâm đến những đau khổ luân lý. Quả thực, đau khổ luân lý đáng để con người quan tâm hơn bởi vì hình thức đau khổ này liên quan trực tiếp đến ‘nội tâm con người’, liên quan đến hữu thể ưu tuyển có tên gọi là ‘con người’. Nói cách khác, đau khổ thể lý liên quan đến ‘cái con người có’ trong khi đau khổ luân lý liên quan đến ‘cái con người là’. Chẳng hạn, có những người tỏ vẻ bề ngoài nhân đạo như hô hào mọi người làm từ thiện hay xoa dịu nỗi đau của các nạn nhân bị dịch bệnh. Tuy nhiên, tâm hồn họ đầy ác ý, dung dưỡng hận thù, ghen ghét, đố kỵ, nói xấu người khác hay dàn dựng và phổ biến những thông tin nặc danh nhằm bôi nhọ, hạ nhục người khác. Thực ra, con người hồn xác nhất thể. Mọi người được mời gọi cộng tác với nhau trong việc xoa dịu những nỗi đau luân lý và thể lý của anh chị em đồng loại như Đức Giê-su đã làm. Chẳng hạn, trước người bại liệt, Đức Giê-su chữa anh khỏi đau khổ luân lý: “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5). Đồng thời, Người cũng chữa anh khỏi đau khổ thể lý: “Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà!” (Mc 2,11). Con người hay có cái nhìn phiến diện và thường quan tâm nhiều về những đau khổ, thiếu sót, khiếm khuyết của thế giới thụ tạo mà không quan tâm đúng mức về những điều tốt lành trong đó. Chẳng hạn, con người thường quan tâm nhiều về sự đột biến gen (đơn vị cơ bản của di truyền) diễn ra trong quá trình phân chia của một phân tử ADN (acid deoxyribonucleic) dẫn đến bệnh tật mà không quan tâm đúng mức về sự kỳ diệu của toàn bộ phân tử AND; rõ ràng những đột biến diễn ra trong quá trình phân chia của phân tử ADN dẫn đến bệnh tật quá nhỏ so với sự phân chia phân tử ADN diễn ra bình thường, giúp con người phát triển lành mạnh. Con người thường quan tâm nhiều về một số em nhỏ bị bệnh đao (down syndrome) mà không quan tâm đúng mức về tỷ lệ các em bị bệnh đao quá ít so với các em được sinh ra khỏe mạnh. Tương tự như vậy, con người thường quan tâm nhiều về một số trận động đất xảy ra mà không quan tâm đúng mức về việc trái đất đang nuôi dưỡng khoảng tám tỷ người. Con người thường quan tâm nhiều về cái chết của vài triệu người do Covid-19 gây nên mà không quan tâm đúng mức về hàng tỷ người đang sống khỏe mạnh và dịch bệnh ngày càng suy giảm; kinh nghiệm lịch sử cho con người biết rằng Covid-19 hay bất cứ hình thức dịch bệnh nào rồi cũng sẽ qua đi. Quả thực, mỗi hình thức đau khổ đều cho con người những bài học quí giá và mời gọi con người luôn sống tâm tình tạ ơn, phó thác hơn là tâm tình vô ơn, lãnh đạm. Thập giá Đức Giê-su chính là câu trả lời cho tất cả những ai đặt câu hỏi: ‘Tại sao con người phải đau khổ?’. Trong khi Đức Giê-su không trả lời câu hỏi về đau khổ bằng lời nói thì Người trả lời bằng hành động gánh chịu đau khổ tột cùng. Như vậy, thay vì đặt câu hỏi ‘tại sao con người đau khổ?’, chúng ta nên đặt câu hỏi ‘tại sao Đức Giê-su là Con Thiên Chúa phải chịu đau khổ và tại sao tình yêu của Thiên Chúa lại được diễn tả nơi đau khổ của Đức Giê-su?’. Như đã được đề cập ở trên, trong hành trình trần thế, Đức Giê-su không quan tâm đến những giả thuyết về đau khổ hay giải thích đau khổ bằng ngôn ngữ trừu tượng nhưng giải thích bằng việc tự nguyện chấp nhận đau khổ và tham dự vào muôn hình thức đau khổ của kiếp người. Như vậy, mọi người cần quy chiếu đau khổ của mình về đau khổ của Đức Giê-su, đặt ‘bức tranh nhỏ về đau khổ của mình’ trong ‘bức tranh lớn về đau khổ của Người’ để có thể ngày càng nhận diện rõ hơn về tình yêu vô bờ của Người đối với bản thân mình cũng như tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Chúng ta có thể nhận định rằng, dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, niềm tin không đau khổ là niềm tin giả tạo; tình yêu không đau khổ là tình yêu vô vị; hy vọng không đau khổ là hy vọng hão huyền. Biểu tượng trung tâm của Ki-tô Giáo là thập giá Đức Giê-su, biểu tượng đau khổ; cũng là biểu tượng của niềm tin, tình yêu và hy vọng. Tham dự vào đau khổ của Đức Giê-su và phó thác mọi đau khổ cho Người là cách thức phù hợp nhất diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của người Ki-tô hữu. Đức Giê-su đã đi Đường Đau Khổ để đến với gia đình nhân loại và cũng đi Đường đó để đến với Chúa Cha. Do vậy, mọi người trong gia đình nhân loại cũng hãy đi Đường Đau Khổ để đến với nhau, đến với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo và đến với Thiên Chúa. Những ai đón nhận Đức Giê-su thì được mời gọi sống theo Đường Đau Khổ của Người, diễn tả Đường Đau Khổ của Người và loan báo Đường Đau Khổ của Người cho anh chị em đồng loại. Nói cách khác, Đường Đau Khổ của Đức Giê-su cần được đón nhận cách đầy đủ, suy niệm cách thấu đáo và diễn tả cách chân thành trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Sách Tông Đồ Công Vụ cho chúng ta biết rằng trong biến cố Phao-lô trở lại và được chọn làm tông đồ có sự tham dự của ông Kha-na-ni-a. Khi ông phân vân về việc gặp Phao-lô, Đức Giê-su phục sinh nói với ông: “Cứ đi, vì người ấy [Phao-lô] là lợi khí Ta chọn để mang danh Ta đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en. Thật vậy, chính Ta sẽ chỉ cho người ấy thấy tất cả những đau khổ người ấy phải chịu vì danh Ta” (Cv 9,15-16). Đau khổ trở thành đặc tính căn bản của những ai muốn trở thành môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su, Đấng minh định rằng: "Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ” (Mt 10,24). Nói cách khác, ai muốn đồng hình đồng dạng với Đức Giê-su thì hãy luôn trung tín với Đường Đau Khổ của Người. Những quan sát, đánh giá và tổng hợp trên đây cho phép chúng ta kết luận rằng muôn vật muôn loài được Thiên Chúa sáng tạo đều tốt đẹp. Khi con người phạm tội cũng là khi con người phải chịu muôn hình thức đau khổ trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Tuy nhiên, không phải các hình thức đau khổ đều gắn liền với tội lỗi của con người. Điều này có nghĩa rằng đau khổ luôn là mầu nhiệm lớn lao, vượt quá sự lĩnh hội, hiểu biết và giải thích của con người. Để giải thoát con người khỏi đau khổ đời đời, Đức Giê-su đã đi Đường Đau Khổ để đến với gia đình nhân loại. Hành trình trần thế của Người cũng là hành trình nâng đỡ những người đau khổ. Đồng thời, Đức Giê-su cho mọi người biết rằng Thiên Chúa không bao giờ để con người chịu đau khổ quá sức mình và rằng mọi người được mời gọi cộng tác với nhau để xoa dịu các hình thức đau khổ cho anh chị em đồng loại. Đức Giê-su cũng cho mọi người biết rằng Thiên Chúa cho phép đau khổ hiện diện và hoạt động để thanh luyện con người, đồng thời, đau khổ giúp con người gia tăng niềm tin, cậy, mến giữa những khó khăn bấp bênh của cuộc sống hằng ngày. Đức Giê-su đã chịu nhiều đau khổ, chịu chết và sống lại để trao ban sự sống vĩnh cửu cho muôn người. Tiếng nói cuối cùng của gia đình nhân loại, của thế giới thụ tạo không phải là tiếng nói của tội lỗi, của sự dữ, của đau khổ hay sự chết nhưng là tiếng nói của Thiên Chúa tình yêu, của Sự Sống vĩnh cửu. Ước gì, Đường Đau Khổ của Đức Giê-su luôn được mọi người đón nhận, sống và diễn tả trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống mình trên hành trình về với Nước Thiên Chúa viên mãn.
ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG SỰ SỐNG Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên
Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022: Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (21) Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 09 năm 2021 ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG THA THỨ TỘI LỖI + Pet. Nguyễn Văn Viên
Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022: Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (14) Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 02 năm 2021 ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ: ĐƯỜNG QUYỀN NĂNG + Pet. Nguyễn Văn Viên
Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022: Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (15) Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 03 năm 2021 ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ – ĐƯỜNG KÊU GỌI HOÁN CẢI + Pet. Nguyễn Văn Viên
Các bạn trẻ thân mến, Tháng Hai vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô - Đường Quyền Năng. Tháng Ba này (trong Mùa Chay thánh), chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô - Đường Kêu Gọi Hoán Cải. Hành trình trần thế của Đức Giê-su cũng chính là hành trình kêu gọi mọi người hoán cải, trở về với chính mình, ăn năn sám hối, hầu có thể đón nhận tình thương và sự tha thứ của Thiên Chúa. Hoán cải là chủ đề xuyên suốt nội dung đức tin Ki-tô Giáo. Hơn nữa, đây là chủ đề gắn liền với các chủ đề quan trọng khác, chẳng hạn như tội–phạt–hối-cứu (thần học trường phái Đệ-nhị-luật mà các ngôn sứ đào sâu), niềm tin, tình yêu, hy vọng, công chính, thánh thiện. Trong tiếng La-tinh, 'convertere' (hoán cải) là từ ghép giữa con- (với, cùng với) và vertere (quay về, trở lại). Như vậy, hoán cải (convertere) có nghĩa là quay về với tâm hồn mình, nhìn nhận những tội lỗi, thiếu sót, bất xứng và thống hối ăn năn nhằm biến cải con tim, suy nghĩ, cách nhìn nhận mình, người khác, thế giới xung quanh, hầu có thể củng cố và phát triển các tương quan cách tốt đẹp hơn. Động từ tương đương với 'convertere' (La-tinh) trong tiếng Hy-lạp là μετανοέω (metanoeo). Từ đó, xuất hiện danh từ 'μετάνοια' (metanoia: hoán cải) bao gồm μετά- (meta-) có nghĩa là xa hơn, đằng sau, phía trên, vượt qua, siêu việt, bên ngoài, thay đổi và νοια (noia) có nghĩa là tâm trí, não trạng, hiểu biết. Như vậy, hoán cải (μετάνοια) có nghĩa là vượt qua tâm trí, não trạng hay sự hiểu biết vốn có của mình để hướng tới những gì lành thánh, cao thượng và tốt đẹp hơn. Nói cách khác, hoán cải là vượt qua rào cản của kinh nghiệm hẹp hòi, thói quen bị động của bản thân để nhìn nhận con người, hiện tượng, biến cố 'như họ là, như nó là' hơn 'như mình nghĩ'. Trong tiếng Việt, một số từ tương đương với ‘hoán cải’ được sử dụng khá phổ biến là: ăn năn, hối hận, sám hối, đổi mới tâm can. Trong Ki-tô Giáo, hoán cải là điều kiện tiên quyết để con người có thể thiết lập tương quan mật thiết với Thiên Chúa. Tuy nhiên, mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta nhận thức rằng Thiên Chúa luôn đi bước trước trong tiến trình hoán cải. Điều này có nghĩa là Thiên Chúa ban ân sủng và tác động trong tâm hồn con người trước khi con người có ý thức rằng mình cần hoán cải. Do đó, hoán cải của con người chỉ có thể xảy ra khi có sự trợ giúp của Thiên Chúa, hay nói cách khác, ân sủng của Thiên Chúa hiện diện và hoạt động nơi mỗi cá nhân để giúp người đó hoán cải. Vấn đề chính yếu là mỗi người cần ý thức được tầm quan trọng của hoán cải trong đời sống mình. Chúng ta cùng nhau xem xét một số trích đoạn Kinh Thánh liên quan đến điều chúng ta đề cập, chẳng hạn, "Ngài đã sửa trị con và con đã được sửa trị, như con bê chưa vực. Xin đưa con trở về, và con sẽ trở về, vì Ngài là Đức Chúa, Thiên Chúa của con!" (Gr 31,18) hay "Xin đưa chúng con về với Ngài, lạy Đức Chúa, để chúng con trở về. Xin đổi mới cuộc đời chúng con cho được như thời xa xưa ấy" (Ac 5,21). Hoán cải là điều kiện căn bản để con người sống xứng đáng hơn với phẩm giá của mình. Kinh Thánh Cựu Ước cho chúng ta biết rằng khi ông Nô-ê cùng những người nghe ông mà hoán cải thì được sống trong ân nghĩa Thiên Chúa. Tương tự như vậy, Giô-na đã kêu gọi dân thành Ni-ni-vê hoán cải: "Người và súc vật phải khoác áo vải thô và hết sức kêu cầu Thiên Chúa. Mỗi người phải trở lại, bỏ đường gian ác và những hành vi bạo lực của mình" (Gn 3,8). Nhờ đó, thành này khỏi bị hủy diệt và mọi người được sống trong bình an. Lời Chúa trong sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en diễn tả ý muốn của Thiên Chúa là con người phải hoán cải: "Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống. Hãy trở lại, hãy từ bỏ đường lối xấu xa của các ngươi mà trở lại" (Ed 33,11). Tương tự như thế, Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a cho thấy lòng bao dung quảng đại của Thiên Chúa: "Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông" (Is 1,18). Hoán cải vừa mang chiều kích cá nhân vừa mang chiều kích cộng đoàn, chẳng hạn như sự hoán cải của Đa-vít (Tv 51,1-21), sự hoán cải của Na-a-man (2 V 5,1-14) hay sự hoán cải của toàn dân Do-thái (Đnl 4,29-31; Et 4,1-17). Các ngôn sứ trong lịch sử Do-thái có thể phân biệt nhau về không gian, thời gian, bối cảnh xã hội, nhưng giống nhau về việc kêu gọi dân Do-thái hoán cải. Câu hỏi đặt ra là 'tại sao các ngôn sứ lại quan tâm đến việc đó?' Thưa, tại vì dân này thường bội ước với Thiên Chúa, sống xa huấn lệnh của Người, thiếu kiên nhẫn và chạy theo các tập tục ngoại bang. Thay vì kính thờ Thiên Chúa duy nhất, chân thật, họ lại đam mê các ngẫu tượng. Họ muốn quyết định tương lai bản thân và dân tộc mình mà không màng đến sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa. Các ngôn sứ mời gọi họ thực thi công bình, sống tình bác ái, biến đổi bản thân, điều chỉnh hướng đi, trở về với Thiên Chúa đích thực. Điệp khúc hoán cải tiếp tục vang vọng với vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước, thánh Gio-an Tẩy Giả, người chuẩn bị cho sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su. Thánh Mác-cô trình thuật: "Ông Gio-an Tẩy Giả đã xuất hiện trong hoang địa, rao giảng kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội" (Mc 1,4). Đời sống của ông trong hoang địa thật thanh bần: "Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn" (Mt 3,4). Thánh Gio-an Tẩy Giả loan báo về sự xuất hiện của Nước Thiên Chúa: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần" (Mt 3,2). Thánh nhân phân biệt giữa Phép Rửa của ngài giúp mọi người tỏ lòng sám hối và Phép Rửa của Đức Giê-su, Đấng đến sau ngài: "Tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa" (Mt 3,11). Với thánh Gio-an Tẩy Giả, hoán cải là điều kiện tiên quyết để đón nhận Đức Giê-su, Đấng Mê-si-a của Thiên Chúa. Bắt đầu sứ mệnh công khai, Đức Giê-su đã đến sông Gio-đan xin thánh Gio-an Tẩy Giả làm Phép Rửa. Nơi Đức Giê-su chịu Phép Rửa cũng là nơi in dấu biến cố vượt qua của dân Do-thái từ ách nô lệ Ai-cập về với Đất Hứa. Trong thân phận con người, Đức Giê-su đã trở nên mẫu gương cho tất cả mọi người về sự trở về với cõi sâu của lòng mình, 'sâu hơn cả thung lũng Giê-ri-khô'. Hình ảnh Đức Giê-su chịu Phép Rửa giúp chúng ta hiểu biết hơn về sự hạ mình của Con Thiên Chúa. Đặc biệt, hình ảnh Đức Giê-su chịu Phép Rửa cho phép chúng ta ý thức hơn về sự cần thiết của con người trong việc hoán cải để được tha thứ tội lỗi, được giải phóng khỏi sự chết, được tái sinh trong sự sống mới ngay trong hành trình trần thế này và được định hướng về Nước Thiên Chúa viên mãn. Thánh Mác-cô cho mọi người biết sự liên kết giữa sứ mệnh của Gio-an Tẩy Giả và sứ mệnh của Đức Giê-su: "Sau khi ông Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,14-15). Trong bối cảnh Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô, đây là những lời đầu tiên của Đức Giê-su trong sứ mệnh công khai. Chính Gio-an Tẩy Giả đã chuẩn bị cho Đức Giê-su, chuẩn bị cho những lời của Người vang vọng giữa gia đình nhân loại. Chắc chắn rằng đây phải là những lời quan trọng nhất và cũng là những lời tóm gọn mục đích của Biến Cố Đức Giê-su trong hành trình trần thế. Chủ đề hoán cải không phải là chủ đề mới mẻ trong thời Tân Ước. Điều mới mẻ ở đây là sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su cũng chính là sự hiện diện và hoạt động của Nước Thiên Chúa. Hơn nữa, hoán cải bao gồm hướng đi mới là đặt niềm tin vào Đức Giê-su và sứ điệp của Người. Khi Đức Giê-su mời gọi hoán cải, Người muốn tất cả mọi người hãy biến đổi trái tim, biến đổi nhận thức và biến đổi hành vi của mình. Chúng ta cùng nhau điểm qua một số nhân vật được Đức Giê-su kêu gọi hoán cải cách đặc biệt trong Tin Mừng. Buổi đầu sứ mệnh công khai, khi Đức Giê-su nhìn thấy Lê-vi đang bận rộn với công việc thu thuế, Người gọi ông và ông đã theo Người. Sau đó, Đức Giê-su dùng bữa tại nhà ông. Nhiều người thu thuế và tội lỗi khác cùng dùng bữa ở đó. Những người Pha-ri-sêu và kinh sư lẩm bẩm trách các môn đệ Đức Giê-su và Người đã nói: "Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn" (Lc 5,32). Đối với dân Do-thái, những người thu thuế như Lê-vi không những phản đạo mà còn phản quốc; không những phản truyền thống mà còn phản phúc lợi dân tộc. Tuy nhiên, ánh mắt Đức Giê-su đã chiếu rọi trái tim Lê-vi và từ đó ông không còn để tâm đến những con số trên giấy tờ hay làm việc cho những người Rô-ma nữa, bởi vì 'số ông' đã đổi khác. Ông không còn là Lê-vi thu tiền nữa, nhưng là Mát-thêu thu phục nhân tâm; ông không còn là Lê-vi viết giấy tờ thuế má nữa, nhưng là Mát-thêu viết Tin Mừng Đức Giê-su. Tắt một lời, ông không còn là Lê-vi, đệ tử của hoàng đế Rô-ma nữa, nhưng là Mát-thêu, môn đệ trung tín của Đức Giê-su. Tương tự như thế, khi Đức Giê-su đến Giê-ri-khô thì thấy Da-kêu, người thu thuế, đang ở trên cây sung để ngắm xem Người đi qua. Đức Giê-su chủ động đến với Da-kêu, còn Da-kêu tìm mọi cách vượt qua các rào cản để thấy Đức Giê-su và Đức Giê-su đã 'đi bước trước', Người gọi đích danh Da-kêu và đến nhà ông. Da-kêu bị người Do-thái ghen ghét. Đặc biệt, với những người theo truyền thống Rab-bi (Rabbinism), những người thu thuế như Da-kêu bị coi là những kẻ hại dân hại nước. Họ bị trục xuất khỏi các hoạt động tôn giáo kể cả việc lui tới đền thờ hay hội đường. Tuy nhiên, Đức Giê-su đã dùng bữa tại nhà ông. Ông ước ao đến đền thờ hay hội đường để gặp gỡ Thiên Chúa vô hình nhưng không được phép, thì nhà ông đã trở thành đền thờ, trở thành hội đường. Hơn nữa, thay vì ông ước ao đến đền thờ hay hội đường để gặp gỡ Thiên Chúa vô hình thì ngay tại nhà mình, ông gặp Đức Giê-su, Thiên Chúa hữu hình. Trước nghĩa cử thân thương, cao đẹp của Đức Giê-su, ông đã hoán cải nội tâm và thể hiện hành động: "Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn" (Lc 19,8). Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Đức Giê-su không chỉ đến với dân Do-thái mà còn đến với mọi dân để hoán cải họ. Chẳng hạn, Đức Giê-su chữa con gái của người đàn bà Hy-lạp, gốc Phê-ni-xi thuộc xứ Xy-ri (Mc 7,24-30) hay Đức Giê-su chữa đầy tớ của viên đại đội trưởng (Mt 8,5-13). Chúng ta biết rằng người đàn bà gốc Phê-ni-xi và viên đại đội trưởng là 'dân ngoại', nhưng họ đã hoán cải và đặt niềm tin vào Đức Giê-su và sứ mệnh của Người. Với Đức Giê-su, dân ngoại hoán cải thì hơn những người Do-thái (dân Thiên Chúa) cứng lòng. Mang danh 'dân Thiên Chúa' thì chưa đủ để được hưởng ân sủng của Thiên Chúa. Những người 'hữu danh vô thực' không những đóng mình đối với ân sủng Thiên Chúa mà còn trở nên chướng ngại cho những người thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa nữa. Đó là lý do giải thích tại sao Đức Giê-su nói với những người Do-thái bất tín: "Con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng" (Mt 8,12). Đức Giê-su hoán cải người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp cũng là một ví dụ điển hình giúp chúng ta hiểu biết hơn về sứ mệnh của Người đối với tất cả mọi người trong gia đình nhân loại (Ga 4,1-42). Gio-an trình thuật: "Đức Giê-su bỏ miền Giu-đê mà trở lại miền Ga-li-lê. Do đó, Người phải băng qua Sa-ma-ri” (Ga 4,3-4). Chữ 'phải' ở đây diễn tả chuyến đi này nằm trong chương trình của Thiên Chúa Cha. Đối với người Do-thái, dân Sa-ma-ri là 'dân ngoại'. Người phụ nữ Sa-ma-ri ra giếng lấy nước ban trưa và gặp Đức Giê-su ở đó. Khi gặp Người, bà đã ngạc nhiên vì Người biết nhiều về bà, đặc biệt, về tình trạng hôn nhân: "Chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị" (Ga 4,18). Đức Giê-su còn nói với bà về nước đem lại sự sống đời đời mà Người sẽ ban để ai uống thì không còn khát nữa. Người cũng nói với bà về việc thờ phượng Chúa Cha cách đúng đắn là thờ phượng Người trong thần khí và sự thật. Cuối cùng, bà đã nhận ra Đức Giê-su không chỉ là một ngôn sứ mà còn là Đấng Mê-si-a và Đức Giê-su cũng đã khẳng định như vậy (Ga 4,25-26.29). Người phụ nữ đã hoán cải và trở thành người loan báo Tin Mừng cho những người Sa-ma-ri khác và họ đã thốt lên: "Chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian" (Ga 4,42). Sau đó, họ mời Đức Giê-su 'ở lại với chúng tôi' và Người đã ở lại với họ hai ngày. Tuyệt tác của hoán cải và tha thứ được Đức Giê-su diễn tả qua dụ ngôn 'người cha nhân hậu' (Lc 15,11-32). Theo dụ ngôn, người con thứ xin cha mình chia của cải để 'tự lực tự cường' với hy vọng được giải phóng hoàn toàn và trở nên giàu có. Tuy nhiên, chẳng bao lâu, anh ta đã phung phá toàn bộ gia tài người cha trao ban và xin đi chăn heo cho một nông phu dân ngoại để sống qua ngày. Theo luật, ai thuộc dòng giống Do-thái thì không được chăn heo. Hơn nữa, người chăn heo là người bị chúc dữ. Anh ta không chỉ chăn heo mà còn muốn ăn thức ăn của heo nhưng không ai cho. Tủi thân trách phận, anh ta chỉ muốn trở về và được người cha chấp nhận như là đầy tớ trong nhà. Tuy nhiên, khi anh ta về, người cha đã đón tiếp anh vượt quá sự tưởng tượng. Người cha đã sai đầy tớ cho anh ta mặc áo đẹp (biểu tượng danh dự), đeo nhẫn (biểu tượng uy quyền) và mang dép mới (biểu tượng tự do). Hơn nữa, ông còn bắt bê béo làm thịt để mở tiệc ăn mừng (biểu tượng hạnh phúc). Phần kết của dụ ngôn thật có hậu, người con phung phá hoàn toàn biến đổi trong tình thương hải hà của người cha. Với dụ ngôn này, Đức Giê-su cho tất cả mọi người bài học rằng khi con người xa Thiên Chúa thì cũng xa phẩm giá đích thực của mình, nhưng khi hoán cải, con người được phục hồi phẩm giá và được trao ban hạnh phúc viên mãn. Giáo huấn của Đức Giê-su trong Tin Mừng giúp chúng ta nhận thức rằng hoán cải liên quan đến toàn bộ các khía cạnh khác nhau của đời sống con người. Tuy nhiên, việc hoán cải nhằm biến đổi tình trạng nội tâm thì quan trọng hơn những biến đổi bên ngoài. Chẳng hạn, khi một số người Pha-ri-sêu và kinh sư trách các môn đệ Đức Giê-su trước khi ăn không rửa tay theo truyền thống, Đức Giê-su nhắc lại Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân" (Mc 7,6-7; Is 29,13). Quả thật, Đức Giê-su không lên án những người rửa tay trước khi ăn, nhưng Người lên án những người xem việc rửa tay quan trọng hơn rửa tâm hồn. Với Đức Giê-su, những gì vô hình thì quan trọng hơn những gì hữu hình, những gì thuộc tâm hồn thì quan trọng hơn những gì thuộc thể xác. Nói cách khác, với Đức Giê-su, rửa bên trong thì quan trọng hơn rửa bên ngoài, rửa hồn thì quan trọng hơn rửa xác, rửa tâm thì quan trọng hơn rửa tay. Đức Giê-su còn cho biết 'trương độ của hoán cải' về tận khởi thủy và hướng tới cánh chung của thực thể có thể có tên gọi là 'con người'. Trong Tin Mừng, khi các môn đệ tranh luận với nhau xem ai là người lớn nhất giữa họ, Đức Giê-su đã đem một em nhỏ đến và nói: "Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời" (Mt 18,3). Khi Đức Giê-su nói như thế, dĩ nhiên, Người không nói về việc trở nên như trẻ nhỏ theo nghĩa thể xác, nhưng theo nghĩa tâm linh, nghĩa là trở về 'tình trạng đơn sơ trong trắng'. Điều này giúp chúng ta liên tưởng đến việc Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa thuở ban đầu (St 1,26-27). Điều này cũng giúp chúng ta suy niệm về chương trình của Thiên Chúa được thực hiện bởi Đức Giê-su, nhờ đó, phẩm giá chúng ta không chỉ là 'theo hình ảnh Thiên Chúa' mà còn là 'con cái Thiên Chúa' trong hành trình trần thế này cũng như tương lai mai hậu (Ga 1,12; 1 Ga 3,1-2; Rm 8,14; Gl 4,7). Sứ điệp Đức Giê-su về hoán cải được thể hiện rõ nét trong ơn gọi và đời sống của các môn đệ Người qua muôn thế hệ. Chúng ta điểm qua sự hoán cải của thánh Phê-rô, Phao-lô và Au-gút-ti-nô. Phê-rô được Đức Giê-su kêu gọi và trở thành môn đệ Người. Đức Giê-su biết trước rằng Phê-rô sẽ chối Người và sẽ hoán cải. Người nói: "Si-môn, Si-môn ơi, kìa Xa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh" (Lc 22,31-32). Quả thật, trong cuộc khổ nạn, Phê-rô chối Đức Giê-su tới ba lần, nhưng sau đó Phê-rô đã hoán cải và trở nên chứng nhân trung tín của Đức Giê-su không chỉ ở Pa-lét-tin mà còn tận Rô-ma, trung tâm của đế chế hùng mạnh nhất vùng Địa Trung Hải thời bấy giờ. Khi giảng dạy dân chúng, Phê-rô mời gọi mọi người hoán cải: "Thiên Chúa đã thực hiện những điều Người dùng miệng tất cả các ngôn sứ mà báo trước, đó là: Đấng Ki-tô của Người phải chịu khổ hình. Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Người xóa bỏ tội lỗi cho anh em" (Cv 3,18-19). Với sự giúp đỡ của Phê-rô, Co-nê-li-ô, viên đại đội trưởng người Rô-ma đã hoán cải và trở thành một trong những Ki-tô hữu đầu tiên của Giáo Hội sơ khai (Cv 10,36-48). Với thị kiến được diễn tả ở Cv 10,9-16, Phê-rô nhận ra sự thật rằng Thiên Chúa kêu mời mọi người hoán cải để lãnh nhận ơn cứu độ: "Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận" (Cv 10,34-35). Sự hoán cải của Phaolô cũng rất đặc biệt. Ngài được sinh ra ở Tác-xô (Thổ Nhĩ Kỳ), là người Do-thái thuộc chi tộc Ben-gia-min (Pl 3,5; 2 Cr 11,22). Ngài cũng là công dân Rô-ma ngay từ lọt lòng mẹ (Cv 22,25-29). Ngài lớn lên trong môi trường giáo dục bài bản về lề luật và các truyền thống Do-thái. Ngài cũng được đào tạo kỹ càng về văn chương và văn hóa Hy-lạp. Do đó, ngài là nhà hùng biện lỗi lạc với khả năng tư duy trừu tượng và lập luận khôn ngoan theo kiểu Hy-lạp. Ngài thú nhận về quá khứ nhiệt thành của ngài đối với truyền thống Do-thái. Hơn nữa, ngài đã bắt bớ các Kitô hữu và bách hại Giáo Hội Chúa. Ngài nhận mình bất xứng để được gọi là tông đồ của Đức Giê-su. Tuy nhiên, ân sủng Thiên Chúa bao phủ tội lỗi và biến đổi ngài để ngài có thể cộng tác cách đắc lực trong việc loan báo Tin Mừng cho dân ngoại. Thánh nhân đắm mình trong mầu nhiệm Biến Cố Đức Giê-su và hiến thân trọn vẹn để mưu cầu lợi ích cho muôn người. Trong hầu hết các thư của mình, đặc biệt thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô và thư gửi tín hữu Ga-lát, thánh nhân mời gọi mọi người hoán cải để được lãnh nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa. Cuộc đời hai thì (tội lỗi và hoán cải) của thánh Au-gút-ti-nô đã để lại cho hậu thế bài học vô giá. Thánh nhân đã ra công tìm kiếm căn nguyên sự dữ nhưng không thể nào có được sự giải đáp thỏa đáng. Với thánh nhân, mầu nhiệm sự dữ chỉ có thể hé mở nhờ mầu nhiệm Biến Cố Đức Giê-su, nhất là mầu nhiệm tử nạn. Do đó, thay vì lao nhọc tìm kiếm những giải thích về sự dữ thì ngài đã chiêm ngắm Đức Giê-su, Đấng vô tội nhưng đã chịu đau khổ vì tội lỗi con người và đã chết để tiêu diệt sự chết, hầu cho mọi người được sống. Thay vì quan tâm đến nguyên nhân của sự dữ thì ngài suy niệm 'cái giá' mà Đức Giê-su phải trả để cứu chuộc con người. Đó là lý do giải thích tại sao thánh nhân đã không ngừng hoán cải và trở nên khí cụ hữu hiệu của Thiên Chúa giữa dòng đời. Ngài chia sẻ kinh nghiệm rằng Thiên Chúa thì ở trong ngài, còn ngài thì ở bên ngoài vì ngài đã đắm chìm trong tội lỗi, bất xứng. Theo ngài, khi con người 'thấy' chính mình cũng là khi con người 'thấy' Thiên Chúa, bởi vì chốn sâu thẳm nhất của con người cũng là nơi ngự trị của Thiên Chúa. Chúng ta có thể tóm lược kinh nghiệm của thánh nhân như sau: Con người càng xa mình bao nhiêu thì càng xa Thiên Chúa bấy nhiêu, càng gần mình bao nhiêu thì càng gần Thiên Chúa bấy nhiêu. Thánh nhân khác tội nhân bởi tâm hồn hoán cải. Đời sống của các thánh trong lịch sử Giáo Hội cho chúng ta nhận thức rằng thánh thiện đi đôi với hoán cải. Người thánh thiện cũng là người hoán cải và ngược lại. Những vị thánh vĩ đại nhất cũng là những người hoán cải cách triệt để nhất. Như vậy, sự thánh thiện của con người chính là 'sự thánh thiện hoán cải'. Con người trở nên thánh thiện khi nhận thức rằng mình cần trở về với Thiên Chúa, mình cần hoán cải và việc hoán cải được thực thi. Sự thánh thiện hiện diện khi con người biết nhận ra tình trạng tâm hồn mình và chú tâm biến đổi. Sự thánh thiện đích thực là đặt toàn bộ sự hiện hữu của bản thân vào Đường Kêu Gọi Hoán Cải của Đức Giê-su. Đường này giúp con người cải tà qui chính và hướng lòng trí con người về cánh chung của đời mình là Nước Thiên Chúa mà Đức Giê-su loan báo. Giáo huấn của Đức Giê-su trong Tân Ước cho chúng ta nhận thức rằng hoán cải gắn liền với ba nhân đức: tin, cậy, mến. Quả thật, người hoán cải là người nhận thức được tình trạng tâm hồn mình và tin tưởng rằng Thiên Chúa luôn chờ đợi sự trở về của mình. Người hoán cải cũng là người luôn hy vọng rằng không có tội lỗi hay sự bất xứng nào của bản thân là quá lớn đối với lòng nhân từ và sự tha thứ của Thiên Chúa. Đồng thời, người hoán cải cũng là người biết mở rộng trái tim mình để đón nhận tình yêu của Thiên Chúa và diễn tả tình yêu đó bằng cuộc sống đượm tình bác ái, yêu thương tất cả mọi người. Đặc biệt, người hoán cải là người biết nuôi dưỡng tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, biết hi sinh đón nhận thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và biết cộng tác với Thiên Chúa trong việc giúp người khác hoán cải. Hoán cải là điều cần thiết, tuy nhiên, trong thực tế, nhiều người ngại ngùng thực thi. Quả thực, con người thường đi theo lối mòn và cảm thấy yên tâm với tình trạng vốn có của mình. Nói đến hoán cải là nói đến tự hạ, nói đến hoán cải là nói đến trả giá, nói đến hoán cải là nói đến chấp nhận những mạo hiểm phía trước. Nhiều người muốn biến đổi người khác, biến đổi gia đình, biến đổi xã hội, biến đổi thế giới, nhưng lại không biến đổi chính mình. Chúng ta có thể khẳng định rằng gia đình nhân loại sẽ tốt đẹp hơn khi mọi người càng ngày càng ý thức hơn về tầm quan trọng của hoán cải và thành tâm thực thi việc hoán cải trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Chúng ta luôn được mời gọi cộng tác với ơn Thiên Chúa để kinh nghiệm cá nhân về hoán cải ngày càng được dồi dào hơn. Quả thật, nếu chúng ta không có kinh nghiệm cá nhân về sự hoán cải, chúng ta khó có thể thực thi ơn gọi và đời sống Ki-tô hữu như Thiên Chúa mong muốn. Câu hỏi đặt ra là 'chúng ta phải bắt đầu từ đâu?' Thưa, chúng ta bắt đầu bằng việc nhìn nhận thân phận yếu hèn, tội lỗi, bất xứng của mình trước tình yêu bao la của Thiên Chúa. Đồng thời, chúng ta ý thức rằng không ai trên trần gian này có thể giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn, bấp bênh trong đời sống hằng ngày. Đặc biệt, không ai trên trần gian này có thể đem lại cho chúng ta sự bình an đích thực, hầu có thể đương đầu với những khổ đau trong cuộc sống, nhất là đương đầu với vực thẳm sâu nhất của thân phận con người là sự chết. Người theo Đường Kêu Gọi Hoán Cải của Đức Giê-su không chỉ sám hối, ăn năn vì những tội lỗi, bất xứng của mình mà còn từ bỏ những nguy cơ phương hại đến sự hòa hợp của các chiều kích trong đời sống nội tâm cũng như các tương quan giữa mình với anh chị em, với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo và với Thiên Chúa. Người theo Đường Kêu Gọi Hoán Cải của Đức Giê-su cần học cách lắng nghe tiếng Đức Giê-su giữa muôn tiếng ồn ào, náo động của cuộc sống thường ngày. Đồng thời, người theo Đường Kêu Gọi Hoán Cải của Đức Giê-su cần luôn trau dồi, học hỏi, suy niệm và thực thi thánh ý Người. Hơn nữa, trong hành trình dương thế của mỗi người, không bao giờ gọi là 'quá muộn' để hoán cải. Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a diễn tả điều đó: "Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên" (Is 55,6). Bởi vì, "Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương" (Tv 145,8). Kinh nghiệm của thánh Phao-lô cho chúng ta nhận thức rằng hoán cải không phải là quyết định một lần cho tất cả (once and for all). Hoán cải và tái hoán cải luôn đi đôi với nhau hay nói cách khác: Hành trình con người trên trần thế cũng là hành trình hoán cải. Thánh Phao-lô đã hoán cải, tuy nhiên, ngài nhận ra sự bất xứng của mình, nghĩa là thánh nhân vẫn nghiêng chiều về sự dữ và tội lỗi. Chẳng hạn, trong thư gửi tín hữu Rô-ma, ngài chia sẻ tình trạng căng thẳng trong tâm hồn mình: "Tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa; nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi" (Rm 7,21-23). Thánh nhân cũng tự đặt câu hỏi và có ngay câu trả lời: "Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta!" (Rm 7,24-25). Như vậy, hoán cải và tái hoán cải phải là lộ trình xuyên suốt đời sống người Ki-tô hữu. Theo Kinh Thánh, ăn chay, cầu nguyện và bố thí là ba hình thức chủ yếu diễn tả sự hoán cải cá nhân. Thiên Chúa mời gọi những ai hoán cải cần phải quan tâm đến tình trạng đau khổ của anh chị em đồng loại. Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a cho chúng ta biết điều đó: "Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao: Mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm? Chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?" (Is 58,6-7). Như thế, những hi sinh, tiết chế bản thân đem lại cho người hoán cải tâm hồn cao thượng, biết yêu thương những người đang lâm cảnh bị bỏ rơi, đau khổ, ngặt nghèo trong xã hội. Trong thông điệp Laudato Si’ (2015; LS 5), lấy lại tư tưởng của thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II trong bài Giáo Lý ngày 17 tháng 1 năm 2001, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô mời gọi mọi người quan tâm đến sự hoán cải sinh thái toàn cầu (a global ecological conversion). Theo ngài, con người không chỉ là 'chủ' mà còn là 'nhà quản lý' môi trường thiên nhiên. Quả thực, con người đã 'đối xử bất công' với môi trường thiên nhiên. Hậu quả là môi trường thiên nhiên bị khai thác quá mức, một số sinh vật bị tận diệt và các hình thức ô nhiễm lan tràn. Do đó, con người cần hoán cải để bảo vệ và làm cho muôn vật muôn loài ngày càng phát triển phong phú hơn, đồng thời, luôn ý thức về tương quan và lệ thuộc giữa con người với muôn vật muôn loài. Theo thánh Phao-lô, con người và muôn vật muôn loài liên hệ chặt chẽ với nhau. Ngài còn quả quyết: "Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở" (Rm 8,22). Trong nhãn quan của ngài, muôn vật muôn loài liên đới với con người trong tội của A-đam. Do đó, muôn vật muôn loài cũng liên đới với con người trong sự chúc lành của Thiên Chúa được diễn tả cách đặc biệt nơi biến cố Đức Giê-su (Ep 1,9-10; Cl 1,20). Trong bối cảnh thế giới hôm nay, nhiều người quá chú trọng tương lai và chạy theo phát triển đến nỗi không màng tới nguồn gốc, lịch sử và căn tính của mình. Lời Chúa trong sách Khải Huyền nhắc nhở mọi người: "Hãy nhớ lại xem ngươi đã từ đâu rơi xuống, hãy hối cải và làm những việc ngươi đã làm thuở ban đầu. Bằng không, Ta đến với ngươi, và Ta sẽ đem cây đèn của ngươi ra khỏi chỗ của nó, nếu ngươi không hối cải" (Kh 2,5). Do đó, chúng ta cần ý thức rằng không có hoán cải thì sự tự cao tự đại nơi mỗi người sẽ gia tăng. Không hoán cải thì không thể hiểu biết hay nhận ra những bất toàn của bản thân; không có hoán cải thì không có đổi mới; không có hoán cải thì không nhận ra đâu là sự thiện, đâu là sự thật, đâu là xảo trá. Do đó, tất cả mọi người được mời gọi hãy trở về, hãy tìm hiểu, hãy trả lời, hãy thay đổi, hãy tiến tới. Đặc biệt, tất cả các Ki-tô hữu được mời gọi trở thành chứng nhân cho Đường của Đức Giê-su, Đường Kêu Gọi Hoán Cải, giữa những thăng trầm của đời sống mình. Sứ mệnh loan báo Đức Giê-su, Đường Kêu Gọi Hoán Cải, thuộc về bản chất của Giáo Hội, thực thể được Đức Giê-su thiết lập và tiếp tục hiện diện trong gia đình nhân loại cho đến tận thế. Tất cả con cái Giáo Hội đều được mời gọi tham dự sứ mệnh này. Trong việc loan báo Đức Giê-su, cả người loan báo và người đón nhận đều cần phải hoán cải. Người loan báo cần hoán cải để có thể nhận diện những giá trị tốt đẹp, lành thánh của nền văn hóa nơi Đức Giê-su chưa được loan báo. Bởi vì, những giá trị này không xa lạ với những giá trị mà Đức Giê-su đã sống và chuyển tải. Người đón nhận Đức Giê-su cần xác tín rằng Người là Đấng Cứu Độ duy nhất và họ được mời gọi đoạn tuyệt những gì ngược với giáo huấn của Người. Đặc biệt, người loan báo và người đón nhận Đức Giê-su cần tìm được tiếng nói chung để sống hòa hợp, yêu thương và phục vụ lẫn nhau như Đức Giê-su hằng mong muốn.
Chúng ta có thể kết luận rằng Đường của Đức Giê-su là Đường Kêu Gọi Hoán Cải. Hành trình dương thế của Người cũng là hành trình kêu gọi mọi người hoán cải. Sau khi sống lại, Người trao ban sứ mệnh này cho các môn đệ. Giáo huấn hoán cải của Đức Giê-su có thể tóm lược như sau: (1) Vì tội lỗi, con người sống xa đường lối Thiên Chúa; (2) lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi con người; (3) Thiên Chúa luôn đi bước trước để giúp con người hoán cải; (4) con người được mời gọi luôn trở về với tâm hồn mình; (5) con người cần định dạng tâm hồn mình theo thánh ý Thiên Chúa; (6) bao lâu còn trên đường lữ hành dương thế, bấy lâu con người cần phải hoán cải; (7) mỗi người được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong việc hoán cải anh chị em mình. Hôm nay, Đức Giê-su cũng đang nói với mỗi người chúng ta, với tất cả mọi người trong gia đình nhân loại: "Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,15). WHĐ (01.03.2021)
Chúng tôi đang sử dụng cookie để cung cấp cho bạn những trải nghiệm tốt nhất trên trang web này. Bằng cách tiếp tục truy cập, bạn đồng ý với Chính sách thu thập và sử dụng cookie của chúng tôi.